Affichage des articles dont le libellé est LichSu. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est LichSu. Afficher tous les articles

dimanche 6 décembre 2009

Tôi nằm ngắm trăng và nghĩ về con trăn khổng lồ. Có thể nó đang cuộn tròn ở ngay dưới lưng mình. Đôi lúc tôi có cảm giác nghe thấy cả tiếng thở phì phì của nó phát ra từ lòng đất.

Bóng chiều đổ dài qua những ngọn núi. Thung lũng tối rất nhanh vì hoàng hôn bị ngọn Đản Kháo cao ngất ngưởng mây xanh che khuất. Khưa phân công Mìn đi lọc thịt con nai nấu nướng để ăn bữa tối.

Chui vào hang ngầm tìm ổ trăn khổng lồ

Đại ngàn Cáp Tà phía sau đỉnh Đản Kháo.

Những người còn lại lần theo dấu trăn bò ngang dọc trên mặt đất để tìm hang của nó. Khưa khẳng định chắc chắn con trăn khổng lồ vẫn còn ở khu vực này vì vết bò của nó còn rất mới. Cỏ gianh táp đi vì cơ thể của nó vừa to vừa nặng. Sên dặn dò mọi người phải cẩn thận kẻo dẫm phải rắn chúa, rắn sọc dưa là coi như toi mạng.

Càng tiến sâu vào giữa thung lũng, cỏ héo úa càng nhiều. Thỉnh thoảng lại có một lùm đất vón cục trồi lên, đó là do lũ chuột rừng, chồn, cầy, cáo, dũi đào hang.

Chui vào hang ngầm tìm ổ trăn khổng lồ

Hướng dẫn tập bắn súng.

Xuất hiện trước mặt tôi là một cửa hang tối om, có đường kính tới 40cm, nhẵn thín, có thể lách mình chui xuống được. Xung quanh khu vực có rất nhiều miệng hang lớn khác nữa.

Khưa khẳng định rằng những hang này đều thông với nhau. Dưới lòng đất là một hệ thống “địa đạo” của bọn cầy, dũi… Khưa sai mọi người thận trọng tìm hết ngóc ngách để vít lại.

Càng phát cỏ mở rộng địa bàn tìm kiếm thì càng thấy nhiều cửa hang. Hang hốc xuất hiện ở mọi nơi, mọi chỗ. Khưa cởi phăng chiếc áo đi rừng, cơ bắp cuồn cuộn, mồ hôi nhễ nhại. Gã cầm chiếc dao quắm chặt phăng phăng những đám cỏ cao lút cổ để tìm hang, rồi vít các cửa hang lại bằng những phiến đá, những búi cỏ.

Chui vào hang ngầm tìm ổ trăn khổng lồ

Một con khỉ mặt đỏ bị nhóm thợ săn của Khưa tóm được.

Sau hơn hai tiếng làm việc, ước chừng đã có đến cả trăm cửa hang được vít lại. Những chiếc hang này rải đều trên một diện tích dễ đến 2 sào. Tôi băn khoăn không biết mấy gã thợ săn này bắt trăn kiểu gì? Chẳng lẽ bới cả thung lũng này lên?

Khưa châm lửa vào mảnh gỗ thông mà Sên vừa róc từ gốc của cây thông già. Gỗ thông đậm tinh dầu cháy phừng phừng. Khưa cầm ngọn lửa lách mình chui tọt xuống một cửa hang. Bất chợt có tiếng “phật, phật…”. Không rõ giống chim gì túa lua bay ra ngoài từ cửa hang, nơi Khưa đã chui vào, chỉ còn chìa ra hai cái chân đen trùi trũi.

Chừng 5 phút sau thì Khưa vẫy vẫy hai bàn chân, Cheng lôi tuột Khưa ra ngoài, mảnh gỗ thông đã tắt ngóm. Khưa bảo bên trong còn 4 cái hang nhỏ nữa. Đây là một hệ thống hang do loại dũi mõm nhọn và chồn đào, chúng thông với nhau nên không thể xác định được con trăn đang ở hang nào.

Sau một hồi bàn tính, mọi người thống nhất phương án cử Sên về bản Thượng Bình để mời một cụ già tên Lử đến bắt trăn giúp. Khưa bảo rằng, lão Lử là truyền nhân của người Dao về nghề bắt trăn. Gặp bất kỳ con trăn nào lão cũng tóm được. Nói chung, lão Lử có một khả năng kỳ bí không thể giải thích nổi.

Chui vào hang ngầm tìm ổ trăn khổng lồ

Bắt trăn. (Ảnh sưu tầm).

Mùi thịt nai nướng bốc mùi thơm nức cả góc rừng. Tôi xẻo một miếng thịt ở phần mông của con nai to bằng quả bưởi và ngồi bên tảng đá chén ngon lành. Thịt nai, thịt hoẵng, thịt mang tôi đã từng ăn thay cơm hồi sống hai tháng trời ở huyện Ia Grai (Gia Lai), vùng đất rừng rú giáp Campuchia, song chưa bao giờ thấy ngon đến vậy. Miếng thịt mềm nóng hôi hổi, vị ngọt thấm tận chân răng. Sau khi đã đánh chén no say, tôi và Cheng nhảy xuống dòng Tà Pí bơi lội trong cái lạnh giá.

Chui vào hang ngầm tìm ổ trăn khổng lồ

Giỏng tai nghe tiếng vượn hót.

Khưa và Sên châm lửa vào đám lau lách khô. Ngọn lửa nhanh chóng lan ra khắp thung lũng, cháy bùng bùng, khói bốc nghi ngút, nổ bôm bốp. Cơ thể Khưa hiện lên trong ánh lửa như một cuộn sắt sáng hồng vừa được tôi luyện.

Thấy tôi thắc mắc, Khưa giải thích rằng, đốt lửa như vậy để trăn sợ mà không dám ra ngoài. Trăn là một loài rất tinh khôn, nếu đã có tiếng động hoặc phát hiện ra hơi người là chúng tìm cách lẩn mất. Nếu chúng đã trốn khỏi hang thì dù có đuổi theo cũng vô nghĩa. Trăn có thể chạy với tốc độ 30-40km/h trong hoàn cảnh núi non hiểm trở, rừng rậm dây gai chằng chịt.

Nếu ở mặt đất chúng sẽ tấn công lại một cách quyết liệt. Khi giống bò sát này cuốn vào người, chúng sẽ bẻ gãy xương sống một thanh niên vạm vỡ trong vòng vài giây, khiến nạn nhân tàn tật suốt đời.

Loài trăn hung hăng là vậy, nhưng chúng lại rất sợ lửa. Nếu thấy mùi khói và ánh lửa thì chúng chui tọt vào hang và nằm im ở đó, không dám ra ngoài nữa. Trên một diện tích rộng như vậy không thể trông chừng chúng được, nên phương án đốt lửa dọa chúng tỏ ra hiệu nghiệm nhất. Hôm sau trời sáng, các thợ săn sẽ lần tìm nơi con trăn trú ẩn.

Đêm canh trăn là đêm có nhiều ý nghĩa nhất trong chuyến lặn lội rừng sâu, theo chân đội quân săn thú này. Cảm giác hồi hộp, lo sợ theo tôi suốt đêm đó. Tôi nằm ngắm trăng và nghĩ về con trăn khổng lồ. Có thể nó đang cuộn tròn ở ngay dưới lưng mình. Đôi lúc tôi có cảm giác nghe thấy cả tiếng thở phì phì của nó phát ra từ lòng đất.

Tôi chìm trong giấc ngủ miên man. Cheng lay tôi dậy khi sương mù còn đặc quánh. Thò đầu ra khỏi túi ngủ, sương lạnh tràn vào kéo hơi ấm đi đâu hết. Cánh rừng tràn ngập sương mù...

Lão Lử ráng sức bình sinh xoáy tròn chiếc dùi sắt. Con trăn uốn thân răng rắc rồi nằm bất động.

Cuộc truy bắt trăn khổng lồ huyền bí và kinh dị

Khi tôi thức dậy, đã thấy ông già người Dao tên Lử đến đây từ bao giờ. Ông ta đang cùng Khưa, Sên ngó nghiêng mấy cái hang hiện ra rõ mồn một giữa đám than tro và những vạt cỏ gianh ẩm ướt bị dẫm đạp.

Ông già người Dao gầy còm, nhỏ thó, đen trũi, cầm chiếc que dài độ hơn mét rồi chui tọt xuống hang. Khưa bảo ông ta chỉ cần chọc vào các cửa hang là biết hang nào trăn đang ở. Kinh nghiệm săn trăn là bí truyền của những người già trong bộ tộc Dao đỏ vùng Hoàng Su Phì. Chui vào hang độ 3 phút, lão Lử báo hiệu mọi người kéo ra. Họ trao đổi với nhau bằng ngôn ngữ dân tộc, tôi chẳng hiểu gì, nhưng thấy ai cũng có vẻ hài lòng.

Sên giải thích rằng, lão Lử và Khưa vừa tính cách chia chác khi bắt được con trăn này. Lão Lử bảo con trăn to lắm, lại hung dữ, rất hiếm gặp. Khi bắt được con trăn lão sẽ lấy thịt về tế Thần Rừng và chia cho dân bản. Phần của mọi người là tấm da trăn quý giá. Mỡ trăn ai lấy bao nhiêu thì tùy thích.

Xưa kia, tộc người Dao nơi đây có tập tục bắt trăn trong ngày hội rồi dâng trăn cho thần linh. Chỉ cần phát hiện ra vết trăn, đến ngày hội, con trăn đó sẽ bị bắt rồi già bản cắt tiết tế thần. Hiện nay, tập tục kỳ lạ này không còn nữa, nhưng kỹ thuật bắt trăn vẫn được truyền lại cho một người quan trọng trong tộc và họ coi đó là bí truyền.

Lão Lử dò la các cửa hang đã bị bít lại, ngó nghiêng, chọc gậy vào hang thăm dò. Sau khi đã thăm dò một lượt, lão cầm chiếc dùi sắt cực sắc cắm trước một cửa hang lớn, cách hang chính đến 20m. Lão Lử quỳ xuống khấn vái lầm rầm trước cửa hang. Khưa bảo lão đang đọc thần chú tế Thần Rừng phù hộ để bắt con trăn.

Lấy cửa hang làm trung tâm, lão Lử bước 5 bước rồi bảo mọi người đào chỗ đó, sẽ tóm chặn đầu nó. Sên cởi phăng chiếc áo, vác thuổng đào hùng hục, bới tung cát sỏi. Sau vài chục phút đào và xúc không nghỉ, đến độ sâu hơn mét thì gặp một lỗ hổng. Lão Lử bảo mọi người dừng đào.

Lão chúi đầu xuống móc bới một lát thì tấm da mốc xì, vàng đen vằn vện hiện ra, một con trăn khổng lồ, loài mà người dân nơi đây gọi là con tua tảng. Người Kinh gọi nó là trăn gấm hoặc trăn mắc võng. Để bắt được trăn, thợ bắt trăn thường chọc thủng đầu nó. Lão Lử thận trọng kéo thật nhẹ nhàng để lần tìm đầu con trăn. Khi đầu con trăn chớm lộ ra, lão cầm chiếc dùi sắt cực sắc, dùng hết sức bình sinh đâm xuyên qua đầu nó. Con trăn quằn quại, lồng lộn trong hang, phát ra những tiếng uỵch uỵch trong lòng đất. Khưa ném sợi thừng xuống hang, lão Lử ròng sợi dây qua cổ con trăn rồi thít thật chặt. Khưa và Sên cùng ráng sức kéo sợi dây, con trăn bị lôi ra khỏi lòng đất.

Nó uốn mình lồng lộn nhưng không quấn được vào ai vì một phần cơ thể của nó vẫn còn ở trong hang. Khi phần đuôi vừa lộ ra ngoài thì Mìn lao vào đè chặt. Con trăn hất mạnh đuôi khiến Mìn ngã lăn ra đất. Lúc này Cheng đang ngồi trên lưng cũng bị nó hất văng ra. Lão Lử ráng sức bình sinh xoáy tròn chiếc dùi sắt. Con trăn uốn thân răng rắc rồi nằm bất động. Mọi người nhìn Cheng cười nắc nẻ. Trên trán của gã lấm tấm mồ hôi, ánh mắt vẫn chưa hết hoảng hốt.

Con trăn này ước chừng nặng 70kg, dài hơn 6m. Loài trăn này rất khỏe, sống dai, nhưng vì bị dùi sắt chọc xuyên óc, nên chỉ giãy giụa một lát là chết thẳng cẳng. Lão Lử dùng dao trích vào cổ nó rồi lấy bát rượu ngô hứng một ít huyết tương. Lão uống một ngụm rồi chuyền tay mọi người. Lão bảo uống để gặp may. Tôi cũng nhắm mắt, nhắm mũi làm một ngụm rượu tanh nồng đó.

Lão Lử dùng chiếc dao nhỏ mà sắc bén rạch miếng da ở đầu. Thật dễ dàng, bộ da con trăn được kéo tuột ra khỏi lớp thịt trắng. Lão Lử thuần thục lách dao tách thịt và xương con trăn để xếp vào chiếc gùi cho gọn. Trước khi chia tay, lão còn ném lại cho chúng tôi một khúc. Sên vác súng đi dọc bờ suối kiếm con gì đó để tăng thêm khẩu phần. Cheng đào măng rừng đem luộc. Mìn tẩm ướp miếng thịt trăn đem nướng trên khói. Khưa xát muối vào mặt trong của tấm da trăn rồi phơi tấm da dưới nắng.

Muối và ánh nắng sẽ đốt cháy hết thịt và mỡ còn dính, da sẽ co lại và trở nên săn chắc. Tấm da trăn vừa gọn lại có giá, bán cho dân buôn cũng được vài triệu. Trên con đường trở về từ cánh rừng Túng Quá Lìn dưới chân đỉnh Tây Côn Lĩnh, tôi đi qua rất nhiều núi, nhiều đồi, nhưng chỉ toàn thấy nương rẫy và đồi núi trọc. Ra khỏi rừng mới thấy rừng còn ít quá. Những con thú cuối cùng đang bị dồn lại để đám thợ săn có điều kiện tiêu diệt nhanh gọn.

Cuốc sống của những con thú còn lại trong rừng trước họng súng thật mong manh!

Theo VTC

lundi 14 septembre 2009

Brocante

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=336473&ChannelID=119

Thứ Hai, 14/09/2009, 15:30 (GMT+7)

Tôi đi brocante

TTCT - Trong tiếng Pháp, brocante nghĩa là chợ trời hay chợ bán đồ cũ. Người Pháp có câu “giá rẻ như brocante”! Có tận mắt chứng kiến cảnh người ta mua bán và cho không những vật dụng gia đình trong một brocante, tôi mới hiểu xứ người giàu có nhưng không lãng phí.

Chân ướt chân ráo đến Paris độ tháng 9, nỗi sợ hãi với tôi lúc ấy là cái lạnh cắt da cắt thịt. Tôi vốn gầy nhom nên chịu lạnh rất kém, mấy cái manteau, áo len tuy rất tốt nhưng mặc trong giảng đường thật bất tiện vì tay áo dày mo, vướng víu. Chị bạn cùng thuê nhà, đã trụ được vài năm ở Paris, mách bảo: “Vài hôm nữa chỗ mình có brocante, biết đâu may mắn em sẽ tìm được cái áo lạnh bằng da, còn không thì đồ brocante hàng hiệu giá rẻ mà tốt lắm, mặc trong nhà là tiện nhất!”.

Một góc khu chợ trời nhìn từ nhà ga Fontaine-Michalon - Ảnh: T.H.

Chút thi vị của cuộc sống

Tôi nhớ mãi lần đầu tiên đi brocante với chị bạn này. Sáng thứ bảy, hé rèm cửa sổ phòng nhìn xuống khu công viên - nhà ga Massy. Ôi, người ta bày bán cơ man nào là quần áo, vật dụng gia đình... đông vui như hội chợ. Quơ vội cái khăn quàng cổ, tôi và chị bạn chạy ào xuống đó. Chị bạn tôi mua được ba chiếc áo ấm giá chỉ 3 euro: hai áo Nike tuy hơi cũ nhưng còn rất tốt, còn chiếc áo hiệu Timberland gần như mới nguyên, chỉ bị sứt chỉ một chút ở túi áo nên bị chị ấy nhanh nhảu “ép giá”.

“Với các bạn du học sinh Việt Nam sắp sang Paris: nếu phải tự lo chuyện bếp núc thì nên mang theo chiếc nồi cơm điện nho nhỏ, ít mì gói để có cái dằn bụng lúc ban đầu. Đừng nghĩ ở Pháp giá cả đắt đỏ mà cố công cụ bị nồi niêu, xoong chảo. Cứ chuẩn bị sẵn vài chục euro tiền mặt và những đồng xu 1-2 euro để đi brocante, phần nhiều đồ đạc nho nhỏ ở đây giá chỉ vài euro. Có khi người bán sẽ nhã nhặn biếu không nếu biết bạn là du học sinh”.

Phần tôi may mắn gặp được người bán hàng là đôi vợ chồng trung niên tốt bụng. Chiếc áo ấm hiệu GAP có vẻ được giữ gìn cẩn thận nên trông còn rất tốt, bà vợ đòi 10 euro. Thấy mặt tôi tiu nghỉu bà xuống giọng: “Bạn có thể trả giá. Đây là quà chồng tôi tặng. Tôi bán vì mặc không còn vừa và cũng muốn giúp ai đó chống lại cái lạnh lúc này”.

Khi biết tôi là du học sinh Việt Nam mới sang, bà đã hạ giá rẻ như cho: 1 euro! Và chiếc áo ấm hiệu GAP này đã theo tôi suốt hai mùa đông qua, bây giờ lại sắp được mang ra sử dụng cho mùa đông sắp tới. Còn nhớ lúc đó tôi tròn xoe mắt, đứng lặng vài giây không chỉ trước cái giá rẻ “hết hồn” này, mà còn vì chưa định thần được đây là phiên chợ gì mà hấp dẫn đến vậy!

Cũng giống như mua đồ cũ ở xứ mình, đi brocante cứ mặc sức trả giá, lục lạo được món đồ vừa ý ta sẽ ra về với tâm trạng khoái chí như vừa kiếm được món tiền. Giá cả cứ hạ dần theo thời gian trong ngày, trước khi chợ tan khoảng một giờ người ta giao dịch theo kiểu vừa bán vừa cho. Chính vì vậy, qua hai năm sống ở Pháp tôi đã sưu tầm được rất nhiều hàng độc từ các lần đi brocante: từ quần áo tuy lỗi mốt nhưng là hàng hiệu hẳn hoi đến những chiếc ly, chén, keo lọ bằng sứ rất duyên hay bằng pha lê lóng lánh. Có lần tôi mừng không thể tả vì mua được 10 quyển Truyện cổ Grimm bỏ túi giá chỉ 1 euro (tương đương 26.000 đồng).

Đồ đạc tuy phong phú nhưng bạn phải chịu khó bỏ chút thời gian và công sức tìm kiếm, nếu không cũng chẳng thấy được thứ để mua. Như vài người bạn của tôi, nghe rủ đi brocante thì làm biếng lắc đầu. Nhưng khi thấy tôi có cái áo đẹp hay chiếc rổ đựng trái cây “sành điệu” thì lại trố mắt, trầm trồ: “Mua ở đâu đẹp vậy?”, “Giá bao nhiêu?”. Thế mới biết săn đồ ở brocante cũng cần có khiếu!

“Cơm ngon nhờ chén đĩa”, tôi thường bày bữa ăn trên cái mâm nhỏ bằng nhôm có chạm trổ hoa văn thật đẹp, rồi chiếc ly to tôi dùng uống sữa buổi sáng, chiếc tách dùng uống cà phê, uống trà cũng có tách riêng, chén nhỏ ăn cơm, chén to ăn ngũ cốc, còn bộ sáu cái chén thủy tinh rực rỡ sáu màu khác nhau tôi gói kỹ mang về tặng mẹ để mẹ đổ rau câu... Tất cả nhờ có brocante đã góp phần thi vị cho cuộc sống sinh viên vốn đạm bạc.

Tác giả đã mua được từ người phụ nữ đáng mến này một chiếc áo Promod và một áo khoác hiệu Mexx giá chỉ 6 euro - Ảnh tác giả cung cấp

Nơi dạy con trẻ tính tự lập

Brocante là hình thức buôn bán do chính quyền địa phương tổ chức một cách chính quy. Hộ gia đình nào có nhu cầu thay cũ - đổi mới vật dụng trong gia đình thì tham gia nhằm tránh lãng phí. Vì vậy, đồ đạc ở brocante thật phong phú, từ tủ, bàn ghế, dụng cụ nhà bếp, đồ điện gia dụng đến sách báo cũ. Nhiều nhất là quần áo và dụng cụ gia đình. Riêng đồ của em bé gần như mới nguyên vì trẻ con vốn rất mau lớn, thay áo như thay tã.

Tham gia buôn bán ở chợ trời này còn có trẻ em, chúng đem bán đồ chơi và truyện tranh. Nói chung, đây là cách làm kế hoạch nhỏ của trẻ con Tây, đứa bé nào giữ gìn đồ chơi cẩn thận, chơi chán thì được quyền bán lấy tiền để mua món khác. Cái hay là cha mẹ chúng không can thiệp vào việc định giá hoặc giao dịch với khách hàng.

Vai trò của chính quyền

Tùy theo từng vùng, thường brocante họp vào ngày thứ bảy, chủ nhật đầu tiên của tháng. Riêng Paris hầu như cuối tuần nào cũng có những khu chợ trời tấp nập thay phiên nhau trong 20 quận. Chính quyền thành phố và quận quản lý những khu chợ trời này bằng cách thông báo trước khoảng một tháng về thời gian, địa điểm và lượng gian hàng cho phép tổ chức tại quận nào đó trên website của thành phố. Đóng lệ phí bình quân 15-30 euro bạn sẽ sở hữu được mặt bằng rộng 2-7m2 tùy theo mặt hàng đăng ký. Người tại địa phương có mức lệ phí ưu đãi hơn.

Khu vực chính quyền chọn để họp chợ thường là nơi công cộng như nhà ga, công viên có đầy đủ nhà vệ sinh, chỗ để xe. Chợ chỉ diễn ra trong một ngày, đông vui như hội chợ hay chợ tết ở xứ mình, vì ngoài các gian hàng buôn bán còn có các gian hàng giải khát, các hoạt động giải trí dành cho người lớn và trẻ em. Vào mùa thu-đông, chợ trời bắt đầu từ 8g-17g, mùa hè bắt đầu sớm hơn và kết thúc muộn hơn. Tan chợ, người kinh doanh trả lại mặt bằng sạch sẽ như cũ cho chính quyền.

Brocante không chỉ bán đồ cũ mà còn là nơi để cho đồ. Trên trang web http://vide-greniers.org/agendaRegion.php?region=22 để tổ chức brocante của vùng Ile de France, có mục dành cho người đăng ký cho đồ. Bạn vào đây sẽ có nhiều món đồ còn mới do những gia đình giàu cho tặng, đôi khi là những món đồ rất giá trị mà hiếm thấy ở brocante như tivi, lò vi ba, giường, tủ quần áo, bếp điện, tủ lạnh, máy giặt, đôi khi cả đàn piano, đàn guitar... Người nhận chỉ cần liên hệ để hẹn thời gian đến nhà người cho tặng chở về. Ở xứ sở văn minh, danh dự cá nhân rất được xem trọng, việc cho và nhận đều đúng phép tắc. Tóm lại, với sự điều khiển của chính quyền, brocante là hình thức buôn bán, cho và nhận một cách thông minh, hiệu quả và tiết kiệm.

Có lần tôi tìm được bộ cờ vua nho nhỏ bằng thủy tinh đựng trong chiếc hộp gỗ chạm trổ rất sang trọng. Tôi hỏi mua, bà chủ gian hàng đảo mắt gọi đứa con trai chừng 12 tuổi đang chơi cùng bạn ở gần đó: “Kevin lại đây nào! Có người muốn mua bộ cờ vua của con nè!”. Cậu bé chạy lại nhìn tôi lém lỉnh nói: “Chị vui lòng cho em 15 euro”. Tôi chỉ vào hai con cờ bị mẻ, trả giá, tôi nói mua để tặng em trai. Cậu bé cau mày suy nghĩ rồi bán cho tôi giá 12 euro. Mẹ cậu bé bật cười: “Bộ cờ này đã ba lần theo nó tham gia brocante, ai trả giá nó cũng không chịu bớt. Nó không có chị gái, chắc thích cô nên mới bán”. Nhìn cách Kevin nhận tiền, thối tiền và cảm ơn, tôi thấy hay hay ở chỗ người phương Tây dạy con trẻ cách sống tự lập và ý thức tiết kiệm.

THÁI HÒA (Đại học Paris-Sud XI

jeudi 10 septembre 2009

Lý do đeo nhẫn cưới ở ngón áp út
Ngày đăng: 16/02/2008
http://www.ngaycuoi.com/default.aspx?action=view&content=add_news&displaytype=news&module=news&nid=1043&nid=1043
Ảnh: Corbis.com.
Ảnh: Handwovenbands.com.

Bạn để hai bàn tay đối diện, gập ngón giữa lại và áp sát vào nhau rồi cho hai bàn tay mở ra nhưng các ngón còn lại chống vào nhau ở đầu mút ngón. Bạn sẽ thấy các ngón cái, trỏ, út đều dễ dàng tách ra nhưng riêng hai ngón áp út lại không thể rời.

Và đây cơ sở để người Trung Quốc đưa ra một cách giải thích rất thú vị và thuyết phục về lý do đeo nhẫn cưới ở ngón áp út.

Theo họ, ngón tay cái tượng trưng cho cha mẹ, ngón tay trỏ tượng trưng cho anh em, ngón giữa là chính bạn, ngón áp út tượng trưng cho người bạn đời, và ngón út tượng trưng cho con cái của bạn.

Khi thử úp hai bàn tay theo kiểu đã nói ở trên, bạn sẽ thấy chỉ có ngón áp út là không thể tách nhau ra được. Đó là bởi cha mẹ bạn không thể sống suốt đời với bạn. Anh em cũng sẽ có gia đình riêng và sẽ rời xa bạn. Cuối cùng con cái bạn cũng vậy, chúng sẽ tạo dựng cuộc sống của riêng mình chứ không thể sống cùng bạn mãi mãi.

Còn với ngón áp út, bạn sẽ thấy ngạc nhiên khi không thể tách rời chúng ra khỏi nhau. Đó là vì bạn cùng người bạn đời được số phận mang đến với nhau để hòa quyện, gắn bó không thể tách rời suốt cả cuộc đời, cho dù tất cả thế giới này bỏ hai bạn ra đi và cuộc sống của hai người có trải qua bao thăng trầm, ngọt đắng đến thế nào đi nữa.

Đó chính là lý do tại sao người ta lại đeo nhẫn cưới ở ngón áp út.

Theo Sài Gòn Tiếp Thị

Lịch sử của nhẫn cưới

http://www.vnexpress.net/GL/Doi-song/Gia-dinh/2005/09/3B9E1E53/

Thứ bảy, 10/9/2005, 09:23 GMT+7

Khi chiếc nhẫn cưới được lồng vào tay, nó là biểu tượng của sự ràng buộc giữa hai con người, vững bền, lâu dài và vĩnh viễn. Phải chăng riêng điều này thực sự đã chứng tỏ sự hợp nhất của chúng ngay từ khoảnh khắc ra đời?

Nhẫn cưới là biểu tượng của hôn nhân

Biểu tượng rõ ràng này gửi tới mọi người một thông điệp không thể nhầm lẫn về tình trạng hôn nhân. Chiếc nhẫn cưới thường là rất đơn giản với một thiết kế đẹp và không bị lỗi mốt qua thời gian. Nó cũng có một lịch sử lâu dài, từ thời Ai Cập cổ đại, khoảng 4800 năm trước đây.

Với những người Ai Cập cổ đại, chiếc nhẫn được gắn với một thế lực siêu nhiên, một vòng tròn không có điểm chấm dứt với tình yêu bất diệt. Về sau với người Hy Lạp, khi người con gái chấp nhận chiếc nhẫn cũng có nghĩa là cô gái đã bị trói buộc về cả mặt tinh thần lẫn luật pháp và không còn được tự do nữa.

Còn ngày hôm nay, chúng ta chấp nhận chiếc nhẫn như là một phần của nghi lễ đám cưới, một sự ràng buộc mãi mãi có sự chứng kiến của cả hai gia đình, họ mạc.

Thời gian dần trôi đi và phong tục cũng có những thay đổi đáng kể. Ngày nay, không chỉ các cô dâu mới đeo những chiếc nhẫn như là một biểu tượng của sự ràng buộc mà phần lớn đàn ông cũng chọn đeo nhẫn để xác lập tính trung thực của họ, sự khẳng định gắn bó của họ với một người phụ nữ.

Chiếc nhẫn không nhất thiết phải làm bằng vàng

Thời kỳ Hy Lạp cổ đại, họ sử dụng sắt bởi nó biểu tượng cho sức vững bền. Nhưng sau đó vào, nó được thay thế bằng vàng và bạc bởi chất liệu này đẹp, bền hơn, không bị han rỉ.

Đeo nhẫn cưới bên tay phải hay bên tay trái?

Hầu hết mọi người đều đeo nhẫn cưới bên ngón tay trái. Mặc dù vậy, một số phụ nữ châu Âu lại đeo nhẫn bên ngón tay phải. Một số phụ nữ vùng Scadinavia lại đeo tận 3 chiếc nhẫn: Nhẫn đính hôn, nhẫn cưới, nhẫn khi làm mẹ.

Những cô dâu Do Thái thì đeo nhẫn ở ngón tay trỏ, bởi vì đó là ngón mà với nó họ chỉ vào kinh Torah khi đọc.

Những người theo Thanh Giáo từ chối đeo nhẫn bởi vì họ coi đồ trang sức là phù phiếm.

Tại sao nhẫn cưới được đeo trên ngón áp út của bàn tay trái?

Có rất nhiều giả thuyết về việc vì sao ngón tay này lại gắn biểu tượng của hôn nhân. Cả người Hy Lạp và Ai Cập cổ đại đều tin rằng một huyết quản - được gọi là vena amoris theo tiếng La Tinh - chạy trực tiếp từ ngón tay này tới trái tim.

Trong nước Anh cổ đại, một chú rể sẽ trượt chiếc nhẫn từ ngón tay cái của cô dâu tới ngón trỏ và ngón giữa, nói rằng “Nhân danh cha, con và thần thánh” và sau đó, chú rể đeo chiếc nhẫn vào ngón tay còn trống bên cạnh - ngón áp út của bàn tay trái.

Thói quen này, cuối cùng sau đó được nghi lễ hóa vào những năm 1950 khi con trai của vua Henry WIII viết cuốn The Book of Common Prayer, trong đó nêu rõ đám cưới của người Tin lành hiện đại ở Anh có tuyên thệ và quy định bằng sắc lệnh ngón tay nào sẽ được đeo nhẫn cưới trong lễ cưới.

Đàn ông đeo nhẫn cưới

Việc đàn ông cũng phải đeo nhẫn cưới là một tục lệ tương đối mới. Mãi cho tới giữa thế kỷ 20, hầu như chỉ có phụ nữ mới đeo nhẫn cưới, có lẽ là để đánh dấu cho cái ngày người phụ nữ được coi như là một tài sản của một người đàn ông hoặc có lẽ na ná giống như hình thức phụ nữ đeo nhẫn đính hôn còn đàn ông thì không.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra và rất nhiều người đàn ông trẻ phải đối mặt với việc chia tay những người vợ trẻ đẹp của mình để ra chiến trường trong một thời gian dài, họ bắt đầu đeo những chiếc nhẫn cưới như biểu tượng của hôn nhân và sự gợi nhớ tới người vợ của họ.

Đó là một hành động rất lãng mạn và tràn đầy tình yêu của người đàn ông có trách nhiệm, chính vì vậy nó đã tồn tại đến tận thời nay, trong đám cưới chú rể cũng được cô dâu trao lại nhẫn trong ngày cưới.

(Theo Tiền Phong)

Hé lộ về nàng Elise trong bản nhạc 'For Elise'

http://vnexpress.net/GL/Van-hoa/Am-nhac/2009/09/3BA134E7/

Thứ năm, 10/9/2009, 11:17 GMT+7

Ai cũng biết những giai điệu dịu dàng, tha thiết trong tiểu phẩm "For Elise" của Ludwig van Beethoven. Nhưng không ai dám chắc, tại sao nhạc sĩ thiên tài lại đặt tên bản nhạc là "Thư gửi Elise" và Elise của ông là ai.

Đến nay, những nốt nhạc For Elise được dùng làm chất liệu cho nhiều thể loại, từ rock, jazz, cho tới chuông điện thoại - một minh chứng cho thấy sự phổ biến của bản nhạc trong đời sống văn hóa đại chúng. Nếu Beethoven còn sống và được nhận tác quyền, nhà soạn nhạc tài hoa này hẳn sẽ là một quý ông giàu có.

For Elise được viết ở giọng La thứ, chỉ là một tiểu phẩm nhỏ trong di sản âm nhạc đồ sộ của Beethoven. Sau những giai điệu ngọt ngào, người ta còn tò mò về một nàng Elise (nếu nàng có thật) đã khiến nhạc sĩ phải viết nên bức thư bằng âm nhạc.

Beethoven thành công trong sự nghiệp nhưng không may mắn trong các mối quan hệ. Ảnh: DW.

Một số học giả đoán, Elise chính là Therese - cô học trò nhỏ được Beethoven dạy nhạc, được ông cầu hôn năm 1810, nhưng đã cự tuyệt ông để cưới một quý tộc giàu có người Áo. Therese tên đầy đủ là Therese Malfatti von Rohrenbach zu Dezza. Cô là con gái của một thương gia giàu có ở thành Vienna. Các nhà nghiên cứu âm nhạc cho rằng, For Elise có những nốt mở đầu là E - D# - E hoặc E - Eb - E. Trong tiếng Đức, chúng tương đương với E - Es - E, xuất hiện trong tên ThErESE. Vì vậy, nhiều giả thuyết cho rằng, tên gốc của tác phẩm là For Therese. Nhưng Ludwig Nohl (1831-1885), học giả nghiên cứu về Beethoven, khi chép lại từ bản nhạc gốc, đã chép nhầm thành For Elise, vì chữ viết tay của nhạc sĩ quá đẹp và bay bướm. Bản nhạc gốc sau đó đã bị thất lạc.

* Nghe giai điệu 'For Elise'

Tuy nhiên, Klaus Martin Kopitz - một nhà nghiên cứu âm nhạc ở Berlin cho rằng, Elise thực ra là Elisabeth Roeckel - người mà Beethoven đã suốt đời thương thầm nhớ trộm.

"Nhiều năm qua, tôi đã nghiên cứu để viết cuốn sách 'Beethoven in the eyes of his contemporaries' (Beethoven trong mắt những người cùng thời), tập hợp thư từ, thơ ca và hồi ký của những người từng biết Beethoven. "Một số phụ nữ đã được đề cập tới, trong đó có cái tên Elisabeth Roeckel", Kopitz chia sẻ với Deutsche Welle.

Chân dung Elisabeth Roeckel. Ảnh: DW.

Elisabeth Roeckel, sinh năm 1793, là em gái của ca sĩ Joseph Roeckel - người từng tham gia vào vở nhạc kịch Fidelio của Beethoven. Elisabeth đam mê âm nhạc. Cô chơi piano và sau đó cũng trở thành ca sĩ. Elisabeth thường được bạn bè gọi bằng cái tên thân mật là Elise. Chị em Elise rất gần gũi với Beethoven.

Theo Kopitz, những bức thư Elise viết cho bạn bè còn giữ lại đến ngày nay cho thấy, giữa họ có thể không đơn thuần chỉ tồn tại tình bạn. Trong một lá thư, Elise kể lại một buổi tối giữa cô với Beethoven và các nhạc sĩ như Mauro Giuliani, Johann Nepomuk Hummel - người sau này trở thành chồng của Elise.

"Elise viết rằng, Beethoven đã không ngừng liếc nhìn cô, khiến cô không viết mình phải làm gì. Cô cứ phải xoay vặn bàn tay để giấu cảm giác khó xử", Kopitz kể.

Việc Elise kết hôn với Hummel không có nghĩa là mối quan hệ giữa cô và Beethoven chấm dứt. Vài ngày trước khi nhà soạn nhạc qua đời vào tháng 3/1827, Elise tới thăm Beethoven. Để tỏ lòng ngưỡng mộ nhạc sĩ thiên tài, cô cắt một nắm tóc của ông và nhận của ông một món quà.

Nếu Elise quả thực là Elisabeth Roeckel, tại sao cô bí ẩn với các nhà nghiên cứu âm nhạc lâu đến thế. Tại sao lại xuất hiện những giả thuyết cho rằng, bản nhạc này là dành tặng Therese Malfatti?

Kopitz giải thích, nguyên nhân có thể xuất phát từ Ludwig Nohl. Khi công bố bản nhạc này, Nohl ghi chú lời đề tặng là dành cho Therese. Vì ông khẳng định tìm thấy bản gốc trong nhà Therese.

Trong khi các học giả còn tranh cãi xem ai mới đích thực là Elise, Bernhard Appel - giám đốc thư viện Beethoven ở Bonn - lại cho rằng, điều đó không quan trọng. "Elise là cái tên rất phổ biến ở Vienna lúc bấy giờ. Bản nhạc có gì thay đổi không nếu chúng ta biết nó được tặng cho ai", Appel nói.

Hà Linh

mardi 1 septembre 2009

Fête de Vu Lan ou la Légende de Mục Kiền Liên - Fête des Mères Vietnamienne

Vendredi 15 août 2008
ame-vietnamienne

Aujourd'hui était un jour spécial au Vietnam celui de la fête Le Vu Lan ou lit. "La fête du pardon des trépassés" qui est organisée sous diverses formes, dans la plupart des pays bouddhistes notamment la Chine, l’Inde et aussi au Japon. Lors de cette deuxième plus grande fête bouddhique, les croyants rendent hommage chez eux à l’autel de leurs ancêtres. En même temps, ils préparent à l’entrée de leur maison un petit autel, en faisant des offrandes de nourriture et de cadeaux pour les âmes errantes des morts oubliés. Les gens participent, en outre, à plusieurs activités : pèlerinages, visites de pagodes, régime végétarien, activités charitables, offrandes de papiers votifs pour les morts... Au Vietnam, cette fête n’est plus exclusivement réservée aux bouddhistes elle est devenue une tradition pour tous.

A l'ocasion de cette fête, les Viêtnamiens agrafe une rose rouge sur leurs vêtements pour témoigner non seulement de la reconnaissance mais aussi de la joie d'avoir ce trèsor inestimable, c'est ce qu'a suggéré le moine zhen Viêtnamien
Thích Nhất Hạnh dans sont livre "Bông Hồng Cài áo" (Une Rose Sur La Veste).

Pour lire la nouvelle en Vietnamien ou en Anglais : Bong Hong Cai Ao

Elle inspira aussi le feu compositeur Trinh Cong Son qui écrivit ceci :

Si j'avais un bouquet de roses d'une valeur inestimable,
j'aimerais bien l'offrir à ma mère.
Malheureusement, elle n'était plus là pour le recevoir.

La rose devient le symbole de l'affection indescriptible que tout Vietnamien aime réserver à sa mère, celle qui leur à donné la vie mais aussi l'amour pour leur pays, ainsi on a aussi coutume de la comparer à notre fête des mères ...

Je vous propose aussi d'écouter la chanson du même nom, "Bông Hồng Cài áo" et d'y découvrir sa traduction en Français.


La légende raconte que ...

Il était une fois une dame méchante au nom de Thanh De. Elle était impitoyable envers les pauvres et surtout envers les mendiants. Elle ne faisait jamais aumône et chassait tout mendiant qui se présentait au portail de sa maison.

Elle n’hésitait pas à piétiner des grains de riz, recueillis par les pauvres paysans s’échinant à longueur d’année sur leurs terres. Elle se moquait des bonzes et des bonzesses en cherchant à rompre leur quiétude. Elle blasphémait Bouddha, méprisait les esprits et offrait à la pagode des victuailles de jeûne auxquelles elle avait mêlé des aliments carnés.

Malgré les conseils de son fils Muc Kien Lien qui fut un bonze de haute vertu, elle ne l’écoutait guère. A sa mort, elle rejoignit le Royaume des Morts et dut payer ses fautes commises dans le monde des vivants : s’asseoir sur un lit à clous, porter sur la tête un seau rempli de sang, rester affamée et assoiffée car tout aliment qu’on lui mettait dans sa bouche se fondait en sang et se muait en flamme.

Muc Kien Lien , une fois l’illumination atteinte, put descendre dans le Royaume des Morts pour voir sa mère. Il fut témoin des châtiments qu’elle encourut. Il ne put rien pour changer le cours justicier du décret céleste et ne put pas non plus se substituer à sa mère. Il fut obligé d’aller voir Bouddha et demanda grâce à ce dernier. Celui-ci lui ordonna d’organiser au 15ème jour du 7ème mois lunaire, la cérémonie de Vu Lan, au cours de laquelle il pourrait solliciter la remise de peine pour sa mère avec les prières et l’aumône.

De retour sur terre, Muc Kien Lien, le jour venu, dressa un autel en hommage à Bouddha tout en faisant aumône et cérémonie bien austère et fervente.

Thanh De, dans le Royaume des Morts, prit conscience de la souffrance comme elle fut sensible à la faim et à la soif. Les difficultés qu’elle rencontrait l’amenaient à se départir au fur et à mesure de sa nature méchante et à connaître le remords.

La piété de Muc Kien Lien remua la porte du Ciel. Le père céleste réexamina le cas de Thanh De, constata qu’elle avait pu se repentir et l’acquitta. Il fut permis à Muc Kien Lien de descendre dans l’enfer ramener sa mère à la vie. Depuis lors, Thanh De, de tout coeur, honora Bouddha, respecta les bonzes, secourut les pauvres.

En s’inspirant de cet exemple, les enfants pieux, selon la coutume vietnamienne, au 15ème jour du 7ème mois lunaire, érigent un autel à la mémoire des défunts et font aumône aux pauvres.

Sự Tích Rằm Tháng Bảy
Và Xuất Xứ Của Hai Tiếng Vu Lan

An Chi (Huệ Thiên)

Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này và lễ cúng cô hồn có phải là một hay không ? Và đâu là xuất xứ của hai tiếng " Vu Lan " ?

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La, thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ. Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống. Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.

Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được. Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông. Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo. Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát. Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.

Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không ? Không ! Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày. Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau : Cứ theo "Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh" mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói : " Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên ". A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi Là "Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni", đem tụng trong lễ cúng để được thêm phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái. Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu. Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn mà chúng tôi đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là " thả quỷ miệng lửa ", về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành " tha tội cho tất cả những người chết ". Vì vậy, ngày nay mới có câu : " Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân ".

Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên, một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng. Một đằng là báo hiếu, một đằng là làm phước. Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái văn Kiểm cho rằng lễ Vu Lan và lễ (xá tội) vong nhân (fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (X. Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65). Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu Lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết (Chúng tôi nhấn mạnh - HT) không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 795, mục Vu Lan bồn). Nhưng đây không phải là " những người đã chết " nói chung vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời mà thôi.

Trở lên là nói về sự khác nhau giữa lễ cúng cô hồn với lễ báo hiếu, thường gọi là lễ Vu Lan. Vu Lan là dạng tắt của Vu Lan bồn. Nhưng Vu Lan bồn là gì ? Sau đây là lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi : " Bồn là cái chậu đựng thức ăn. Cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa. Vu Lan dịch âm từ chữ Sanscrit Ullabana, là cứu nạn treo ngược. Những người làm nhiều điều ác đức, sau khi chết, phải thác sinh xuống những cõi sống rất khổ gọi là địa ngục. Ở đây có một khổ hình là bị treo ngược (Sđd, tr. 795). Chúng tôi sẽ dựa vào lời giảng này mà tìm hiểu về xuất xứ của mấy tiếng " Vu Lan " và " Vu Lan bồn ". Lời giảng này có bốn điểm sai mà điểm sai thứ nhất thì chúng tôi vừa mới chỉ ra ở những dòng cuối của đoạn trên.

Sau đây là điểm sai thứ hai : Nói bồn là cái chậu đựng thức ăn thì không đúng vì bồn chỉ là một yếu tố phiên âm (sẽ phân tích rõ ở phần sau) mà thôi. Nói rằng đó là " cái chậu đựng thức ăn đem cúng dường chư tăng vào ngày rằm tháng 7 " thì lại sai theo một kiểu khác nữa. Chậu là " đồ dùng thường làm bằng sành sứ hoặc kim loại, miệng rộng, lòng nông, dùng để đựng nước rửa ráy, tắm giặt hoặc để trồng cây v.v..." (Từ điển tiếng Việt 1992). Vậy đựng thức ăn trong loại đồ dùng đó mà dâng lên cho chư tăng thọ thực là một hành động hoàn toàn thất nghi và thất lễ. Thật ra, Phật đã dạy Mục Liên như sau :

Phải toan sắm sửa chớ chầy
Ðồ ăn trăm món trái cây năm màu
Lại phải sắm giường nằm nệm lót
Cùng thau, bồn, đèn đuốc, nhang dầu
Món ăn tinh sạch báu mầu
Ðựng trong bình bát vọng cầu kính dâng

(Diễn ca kinh Vu Lan bồn)

Thau, bồn (chậu) chỉ là những thứ phải dâng cho chư tăng trong dịp Vu Lan để dùng trong việc rửa ráy, tắm giặt ... mà thôi. Còn thức ăn thì phải " tinh sạch báu mầu, đựng trong bình bát " đàng hoàng lịch sự, chứ có đâu lại đựng trong chậu.

Thật ra, trước Thích Minh Châu và Minh Chi, cũng có những học giả đã giảng như trên, chẳng hạn Ðoàn Trung Còn trong bộ từ điển lớn về Phật học hoặc Toan Ánh trong bộ sách dày về nếp cũ. Ðây là một cách giảng lệ thuộc vào cái sai của sách vở Trung Hoa. Từ Nguyên chẳng hạn, đã giảng về mấy tiếng Vu Lan bồn như sau : " Nói lấy chậu đựng trăm thức để cúng dường chư Phật " (Vị dĩ bồn trữ bách vị cung dưỡng chư Phật).

Ðiểm sai thứ ba là đã theo cái sai của những người đi trước mà giảng Vu Lan thành " cứu nạn treo ngược", vì thấy từ điển Trung Hoa giảng Vu Lan bồn là " cứu đảo huyền ". Thật ra, khi Từ Nguyên chẳng hạn, giảng Vu Lan bồn thành " cứu đảo huyền " là đã mượn hai tiếng "đảo huyền " trong sách Mạnh Tử. Trong sách này, có cú đoạn " Dân chi duyệt chi do Giải đảo huyền dã" nghĩa là "như giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng vậy ". Chính Từ Nguyên cũng đã giảng " đảo huyền " là sự khốn khổ tột cùng (khốn khổ chi thậm). Vậy " cứu đảo huyền " không phải là " cứu nạn treo ngược " mà lại là " giải thoát khỏi sự khốn khổ tột cùng ". Hai tiếng " đảo huyền " ở đây không còn được hiểu theo nghĩa đen nữa. Nghĩa của chúng ở đây cũng giống như nghĩa của chúng trong thành ngữ " đảo huyền chi tế " là tình cảnh khốn khó, chứ không phải là " cảnh bị treo ngược ".

Ðiểm sai thứ tư là ở chỗ nói rằng danh từ Sanscrit "Ullabana " có nghĩa là " cứu nạn treo ngược ". Trước nhất, cần nói rằng từ Sanscrit này đã bị viết sai. Vậy không biết ở đây hai tác giả muốn nói đến danh từ Sanscrit nào, nhưng cứ theo dạng sai chính tả đã thấy thì có thể luận ra rằng đó là một trong hai từ sau đây : Ullambana hoặc Ullambhana. Ở đây, xin phân tích từ thứ nhất: Ullambana gồm có ba hình vị : ud (trở thành ul do quy tắc biến âm samdhi khi d đứng trước l) là một tiền tố, thường gọi là tiền động từ (préverbe) chỉ sự vận động từ dưới lên, lamb là căn tố động từ có nghĩa là treo và ana là hậu tố chỉ hành động. Vậy Ullambana có nghĩa là sự treo lên. Nhưng tất cả chỉ có như thế mà thôi ! Từ Sanscrit này không hề diễn đạt cái ý treo ngược hoặc treo xuôi gì cả. Nó lại càng không thể có nghĩa là " cứu nạn treo ngược " được.

Trở lên, chúng tôi đã nêu ra những điểm sai trong lời giảng của Thích Minh Châu và Minh Chi về hai tiếng "Vu Lan ". Vậy đâu là xuất xứ và ý nghĩa đích thực của hai tiếng này ? Trước nhất, Vu Lan là dạng nói tắt của " Vu Lan bồn ". Ðây là ba tiếng đã được dùng để phiên âm danh từ Sanscrit Ullambhana. Từ này thoạt đầu đã được phiên âm bằng bốn tiếng Hán đọc theo âm Hán Việt là Ôlambàna. Dạng phiên âm cổ xưa này đã được Từ Hải khẳng định. Về sau, Ôlambàna được thay thế bằng dạng phiên âm mới là " Vu Lan bồn", trong đó Vu thay thế cho Ô, lan cho lam và bồn cho bà + n (a). Vì " Vu Lan bồn " chỉ là ba tiếng dùng để phiên âm, cho nên từng tiếng một (Vu, Lan, bồn) hoàn toàn không có nghĩa gì trong Hán ngữ cả. Do đó, tách bồn ra mà giảng thành " cái chậu đựng thức ăn " như hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi đã làm là hoàn toàn không đúng.

Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Danh từ Sanscrit này có ba hình vị: Tiền tố ud (trở thành ul vì lý do đã nói), căn tố động từ lambh và hậu tố ana. Xin nói rõ về từng hình vị : Không giống như trong Ullambana, ở đó nó chỉ sự vận động từ dưới lên. Trong Ullambhana, tiền tố ud chỉ ý phủ định hoặc đối lập, thí dụ : chad (che, bọc, phủ), dv (đối với), uc-chad (cởi quần áo), khan (chôn), đv ut-khan (moi lên), gam (đi), đv ud-gam (đi ra), nah (trói, buộc), đv un-nah (cởi trói) v.v... Trong những thí dụ trên, ud trở thành uc, ut, un do quy tắc biến âm samdhi. Còn các căn tố động từ thì được ghi bằng chữ in hoa theo truyền thống khi chúng được tách riêng. Căn tố động từ lambh là hình thái luân phiên với labh, có nghĩa là lấy, chiếm lấy, nắm bắt ... Vậy Ul-lambh có nghĩa là giải thoát. Hậu tố ana chỉ hành động có liên quan đến ý nghĩa mà tiền tố và căn tố động từ diễn đạt. Vậy Ullambhana có nghĩa là sự giải thoát. Ullambhana được phiên âm sang Hán ngữ bằng ba tiếng dọc theo âm Hán Việt là " Vu Lan bồn ". Vu Lan bồn được nói tắt thành Vu Lan. Vậy Vu Lan là sự giải thoát. Xuất xứ của nó là danh từ Sanscrit Ullambhana. Ðây là từ thứ hai trong hai từ mà chúng tôi đã suy đoán ở trên. Trong cấu tạo của từ này, tuyệt nhiên cũng không có một thành tố nào mà về ngữ nghĩa lại có liên quan đến hiện tượng " treo ngược " cả.

Trở lên, dù sao cũng chỉ là ý kiến thô thiển của một cá nhân. Ðúng hay sai, xin được sự thẩm xét của các nhà chuyên môn, trước nhất là các nhà Phật học và các nhà Phạn học.

An Chi (Huệ Thiên)*

* An Chi (Huệ Thiên) là một thành viên trong Ban giảng huấn - Lớp Gia Giáo luyện dịch Hán Tạng Chùa Viên Giác Tân Bình, phụ trách giảng ngoại khóa. Bài này đã được học giả An Chi giảng tại lớp Gia Giáo ngày 9/8/2000.

http://www.quangduc.com/VuLan/180xuatxuvulan.html

LA FÊTE VU-LAN (Fête du Pardon des Trépassés)

lesamisfrancophonesduvietnam

Elle a lieu chaque année au 15ème jour du 7è mois lunaire. La légende raconte qu’un

nommé MUC-KIÊN-LIÊN était doué d’une grande intelligence et faisait preuve d’une
piété exemplaire envers ses parents. Très jeune, il avait perdu son père, et il lui
restait une mère cruelle et cupide au nom de THANH DÊ. Cette dernière était
impitoyable envers les pauvres, et surtout envers les mendiants. Elle ne faisait jamais
aumône et chassait tout mendiant qui se présentait au portail de sa maison. Elle n’hésitait
pas à piétiner des grains de riz, recueillis par les pauvres paysans s’échinant à longueur
d’année sur leurs terres. Elle se moquait des bonzes et des bonzesses en cherchant à
rompre leur quiétude. Elle blasphémait Bouddha, méprisait les esprits et offrait à la
pagode des victuailles de jeûne auxquelles elle avait mêlé des aliments carnés.
Devant la conduite indigne de sa mère, MUC-KIÊN-LIÊN promena sa peine aux quatre
coins du monde. Grâce à son travail, il devint riche, et envoya à sa mère des grosses
sommes d’argent qu’elle dilapida très rapidement. Afin de tromper son fils, elle se
réfugia dans l’enceinte d’une pagode, et lui fit croire que son argent était dépensé en
oeuvres saintes et charitables. Quand il rentra au village, MUC-KIÊN-LIÊN apprit la
triste vérité et s’effondra de peine.

Aprsè la mort de ma mère, il bâtit alors une chaumière près du tertre funéraire et,
en fils pieux, y vécut trois années pour porter son deuil et fleurir la dernière demeure
de la défunte. Il se rendit ensuite au pays de Bouddha pour l’implorer de le prendre
comme disciple. Une fois l’illumination atteinte, il put descendre dans le Royaume des
Morts. où étaient détenues les âmes des morts non encore réincarnées. Il y trouva
l’âme de son père, mais celle de sa mère n’y était pas. Il pleura abondamment, quand
Bouddha lui fit savoir que sa mère était encore enchaînée dans l’enfer. Il obtint la
permission d’aller rendre visite à sa mère, et put ainsi assister aux châtiments atroces
qu’elle encourut. Il s’empressa d’aller demander grâce à Bouddha qui, ému par tant de
piété, ordonna d’organiser au 15è jour du 7è mois lunaire, une cérémonie au cours de
laquelle sa mère fut remise de sa peine. En s’inspirant de cet exemple légendaire,
les enfants pieux érigent un autel à la mémoire des défunts et font aumône aux pauvres.

Le Vu Lan - La Fête du Pardon des Trépassés

http://www.bonjourlevietnam.com/culture-detail.asp?qCLId=56

Les enfants pieux,selon la coutume viêtnamienne, au 15ème jour du 7ème mois lunaire, érigent un autel à la mémoire des défunts et font aumône aux pauvres.

Il était une fois une dame méchante au nom de Thanh Dê. Elle était impitoyable envers les pauvres et surtout envers les mendiants. Elle ne faisait jamais aumône et chassait tout mendiant qui se présentait au portail de sa maison. Elle n'hésitait à piétiner des grains de riz, recueillis par les pauvres paysans s'échinant à longueur d'année sur leurs terres. Elle se moquait des bonzes et des bonzesses en cherchant à rompre leur quiétude. Elle blasphémait Bouddha, méprisait les esprits et offrait à la pagode des victuailles de jeûne auxquelles elle avait mêlé des aliments carnés. Malgré les conseils de son fils Muc Kiên Liên qui fut un bonze de haute vertu, elle ne l'écoutait guère. A sa mort, elle rejoignit le Royaume des Morts et dut payer ses fautes commises dans le monde des vivants: s'asseoir sur un lit à clous, porter sur la tête un seau rempli de sang, rester affamée et assoiffée car tout aliment qu'on lui mettait dans sa bouche se fondait en sang et se muait en flamme.

Muc Kiên Liên, une fois l'illumination atteinte, put descendre dans le Royaume des Morts pour voir sa mère. Il fut témoin des châtiments qu'elle encourut. Il ne put rien pour changer le cours justicier du décret céleste et ne put pas non plus se substituer à sa mère. Il fut obligé d'aller voir Bouddha et demanda grâce à ce dernier. Celui-ci lui ordonna d'organiser au 15ème jour du 7ème mois lunaire, la cérémonie de Vu Lan, au cours de laquelle il pourrait solliciter la remise de peine pour sa mère avec les prières et l'aumône. De retour sur terre, Muc Kiên Liên, le jour venu, dressa un autel en hommage à Bouddha tout en faisant aunône et cérémonie bien austère et fervente. Thanh Dê, dans le Royaume des Morts, prit conscience de la souffrance comme elle fut sensible à la faim et à la soif. Les difficultés qu'elle rencontrait l'amenaient à se départir au fur et à mesure de sa nature méchante et à connaître le remords. La piété de Muc Kiên Liên remua la porte du Ciel. Le père céleste réexamina le cas de Thanh Dê, constata qu'elle avait pu se répentir et l'acquitta. Il fut permis à Muc Kiên Liên de descendre dans l'enfer ramener sa mère à la vie. Depuis lors, Thanh Dê, de tout coeur, honora Bouddha, respecta les bonzes, secourut les pauvres.

En s'inspirant de cet exemple, les enfants pieux, selon la coutume viêtnamienne, au 15ème jour du 7ème mois lunaire, érigent un autel à la mémoire des défunts et font aumône aux pauvres.
C'est ainsi que la fête du Vu Lan devient la fête des Mères pour les viêtnamiens.

dimanche 23 août 2009

http://images.fastcompany.com/china-storms-africa/header.gif

By: Richard Behar Sun Jun 1, 2008 at 1:00 PM

Since Fast Company published China Storms Africa in June of 2008, the article has itself stormed the media landscape. CNN called it "one of the most important magazine articles in years." The American Society of Magazine Editors nominated it for the prestigious National Magazine Award in the reporting category (it was also included in the three issues of FC nominated for the General Excellence award). Author Richard Behar also took the Ed Cunningham Award for Best Magazine Reporting From Abroad from the Overseas Press Club of America award; the George Polk award for Magazine Reporting; the Best in Business News Reporting (Large Magazines) from the Society of American Business Editors and Writers, which later named it the Best of the Best for News Reporting; a finalist for the Michael Kelly Award from Atlantic Media; and a finalist for the Deadline Club for Feature Reporting; and was selected as one of 50 stories, out of 15,000 considered, for the Emerald Management Reviews Citation of Excellence. We hope you'll take this opportunity to take a look at this remarkable and unsettling piece of journalism.

China Storms Africa's six parts are intended to be read as one narrative, beginning with the introduction below.

Special Report: China Storms Africa

By: Richard BeharSun Jun 1, 2008 at 1:00 PM
With its resource-hungry push into the sub-Sahara, Beijing puts the planet to the test.

EnlargeChina in AfricaChina in Africa | photo illustration by Plamen Petkov


The No. 2 killer in Africa by parasite, after malaria, is an organism called Entamoeba histolytica -- or "Eh" for short. It was discovered in 1873, the year it took the life of missionary-explorer David Livingstone, that great champion of British imperialism on what his countrymen called the Dark Continent. I know this because, when I returned home from reporting in the sub-Sahara, the same pathogen was drilling through the walls of my gut. It would colonize there for months, unbeknownst to me, absorbing my nutrients and spewing its toxins, as I grew weak and emaciated.

A skillful intruder, Eh can produce a population explosion in a very short time. While its plan of attack is complex and still not entirely understood, it seems to trick human defense mechanisms into thinking all is well in the homeland. (It achieves that by killing local immune cells, then hiding the evidence by eating the cells' corpses.) Unfortunately, the more virulent the strain, the more the parasite risks killing the host -- sometimes by invading the brain -- rendering everyone homeless. Nonetheless, the more I've learned about Eh, the more I admire its resourcefulness, its work ethic (talk about intestinal fortitude!), and its resolve to survive and propagate. It's a shame we couldn't just get along, that my ecosystem couldn't sustain us both.

I likely picked up my dose of Eh in the Democratic Republic of the Congo, an epicenter of virulent disease, from flies that transported it from infected human feces to food. "If you were a malnourished kid in a refugee camp in Congo," remarked my doctor, a tropical-disease expert who has labored in dozens of such camps, "you would probably die from this infection." As it happened, I had just made it to age 47, the statistical end of the line for the 770 million people who live in sub-Saharan Africa. By their standards, I was already an old man.

An unfathomably vast terrain comprising 49 nations, the sub-Sahara represents nearly one-fifth of the earth's landmass. Yet its total economy is tinier than Florida's. Here, 300 million people get by on less than $1 a day. Until they don't: It is the planet's biggest tomb, where compared to the 1960s, twice as many children under the age of 5 are now dying each day from disease; a bottomless badland where $500 billion of Western aid since World War II (more than four Marshall Plans) has barely made a dent in the poverty; a region whose market share of world trade is shrinking by the hour as it gets left behind, perhaps permanently, in the dust of globalization; a place so desperate for everything -- cash, trade, investment, infrastructure -- and so powerless to negotiate strategically, that it's pretty much up for sale to the highest bidder.

During my recovery, I had time to dwell on parasites, how they invade and deplete their hosts, much as successive colonial powers have done over the centuries in places such as Africa. Anyone who thinks that kind of ravenous acquisition of resources is a thing of the past should take a close look at the suction China is applying in the sub-Sahara. The region is now the scene of one of the most sweeping, bare-knuckled, and ingenious resource grabs the world has ever seen.

The sub-Sahara is now the scene of one of the most bare-knuckled resource grabs the world has ever seen.

While America is preoccupied with the war in Iraq (cost: half a trillion dollars and counting), and while think-tank economists continue to spit out papers debating whether vital resources are running out at all, China's leadership isn't taking any chances. In just a few years, the People's Republic of China (PRC) has become the most aggressive investor-nation in Africa. This commercial invasion is without question the most important development in the sub-Sahara since the end of the Cold War -- an epic, almost primal propulsion that is redrawing the global economic map. One former U.S. assistant secretary of state has called it a "tsunami." Some are even calling the region "ChinAfrica."

There are already more Chinese living in Nigeria than there were Britons during the height of the empire. From state-owned and state-linked corporations to small entrepreneurs, the Chinese are cutting a swath across the continent. As many as 1 million Chinese citizens are circulating here. Each megaproject announced by China's government creates collateral economies and population monuments, like the ripples of a stone skimmed across a lake.

Beijing declared 2006 the "Year of Africa," and China's leaders have made one Bono-like tour after another. No other major power has shown the same interest or muscle, or the sheer ability to cozy up to African leaders. And unlike America's faltering effort in Iraq, the Chinese ain't spreading democracy, folks. They're there to get what they need to feed the machine. The phenomenon even has a name on the ground in the sub-Sahara: the Great Chinese Takeout.


lundi 3 août 2009

Nhà máy Nokia Phần Lan

Source : kenh14
Acteur : Mạnh Hùng - Ảnh Dailymobile
Date : 04/08/2009 00:01:00

“Chào đời” vào năm 1865, trong suốt 144 năm thành lập và phát triển, Nokia từ một hãng sản xuất giấy đã trở thành một tổng công ty cung ứng nhiều sản phẩm công nghiệp và hàng tiêu dùng, và hiện nay là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới về truyền thông di động.

Trong quý II/09 vừa qua, nhà hãng chiếm thị phần trên thị trường di động lên đến khoảng 38% (so với thị phần 37% vào cuối quý I/2009) và thị phần di động thông minh trên thị trường này ước tính là khoảng 41%.

Dưới đây là những hình ảnh được chụp tại nhà máy sản xuất mobile của Nokia tại quê nhà Phần Lan teen nà:
Toàn cảnh nhà xưởng sản xuất ĐTDĐ.
Sau khi hoàn thiện, rất nhiều dế cưng sẽ được chu du vòng quanh thế giới.

Quá trình lắp ráp mobile gần như hoàn toàn tự động.

Một số phần được công nhân lắp ráp bằng tay.

Các thao tác thực hiện nhanh chóng và chuyên nghiệp.

Lắp ráp xong, từng chú dế được đặt vào khay.







Dây chuyền đóng gói điện thoại.



Kiểm tra chất lượng sản phẩm trước lúc tung ra thị trường.

Có hơn 200 phép thử cho mỗi sản phẩm.









Chuẩn bị những bước cuối cùng trước khi cho vào hộp.
Và giờ thì đem dế đi bán thui nhá!

lundi 20 juillet 2009

Quá trình tiến hoá của ôtô điện

Source : VnExpress
Acteur : Quang Cương (theo MSNBC)
Date : Thứ Ba, 21/7

Các tập đoàn ôtô hàng đầu thế giới đang ra sức cải tiến công nghệ cho phù hợp với điều kiện tiêu chuẩn khí thải và biến động thất thường của giá nhiên liệu. Xe điện trở thành một trong các hướng phát triển, bên cạnh công nghệ hybrid và diesel sạch.

Nhìn lại lịch sử phát triển của xe điện, chúng ta hãy cùng đến với 6 chiếc xe là dấu mốc quan trọng của công nghệ mới mẻ này theo bình chọn của MSNbc.

1922 - Detroit Electric model 90

Xe điện đã được phát triển từ khá lâu. Thậm chí chúng còn thông dụng hơn xe chạy xăng vào thời kỳ đầu của xe hơi. Do khó khăn trong việc khởi động xe bằng cách quay tay (như những chiếc công - nông ở Việt Nam hồi thế kỷ trước) nên xe điện rất được phụ nữ ưa chuộng. Và theo các nhà sử học, cũng vì được phụ nữ ưa chuộng mà xe điện trở thành kiêng kỵ đối với các quý ông, không người đàn ông nào muốn bị bắt gặp đang ngồi trên một chiếc ôtô chạy điện!

Có nhiều hãng sản xuất xe điện vào thời đó như Babcock Electric (1916 - 1912), Baker Electric (1899 - 1916), Ohio Electric (1908 - 1918)… Detroit Electric là nhà sản xuất xe điện nổi tiếng nhất và tồn tại lâu nhất, từ 1907 đến tận 1942. Chính vợ của Henry Ford, Clara Ford, đã nảy sinh mâu thuẫn với chồng khi không lựa chọn sản phẩm của gia đình là Model T, thay vào đó là một chiếc Detroit Electric 1914. Bà thường dùng chiếc xe đó để đi thăm bạn bè và họ hàng.

1974 - Serbing-Vanguard Citicar

Trong thời kỳ xảy ra khủng hoảng năng lượng những năm 1970, Serbing - Vanguard Citicar được lựa chọn thay cho các phương tiện giao thông khác, tạo nên cơn sốt xe cỡ nhỏ. Cho tới 1977, nhà sản xuất đã bán được tới 2.300 chiếc Citicar có giới hạn chạy 80 km và tốc độ tối đa 45 km/h. Khách hàng cũng có thể lựa chọn nâng cấp từ phiên bản 3,5 mã lực lên 5 mã lực với tốc độ tối đa lên khoảng 60 km/h.Vỏ nhựa có tới 5 lựa chọn màu. Thiết kế nhỏ gọn giúp bán kính quay xe chỉ có 3m.

Đến 1976, số lượng Citicar tiêu thụ đã đưa Serbing - Vanguard lên vị trí thứ 6 tại Mỹ (sau GM, Ford, Chrysler, AMC và Checker).

Sau đó, tập đoàn Commuter Vehicles đã mua lại thiết kế Citicar và đổi tên là Commuta - Car. Phiên bản nâng cấp được tiếp tục sản xuất vào năm 1979, có khoảng 2 nghìn chiếc Comuta-car và Comuta-van đã được xuất xưởng. Với 4.300 chiếc, Citicar, hay Comuta-car, hiện đang giữ kỷ lục về lượng xe điện sản xuất trong lịch sử ngành ôtô.

1996 - General Motor EV1

Những năm đầu thập kỷ 90, GM đã đổ hàng tỷ USD vào nghiên cứu xe điện và cho ra đời mẫu xe điện đầu tiên của hãng - EV1. Thế hệ đầu tiên của EV1 gắn ắc quy chì - axit, giới hạn chạy từ 120 đến 160 km. Thế hệ thứ 2 thay bằng ắc quy niken hydrua nâng giới hạn chạy lên 120 đến 240 km nhưng vẫn không đáp ứng được nhu cầu của người dùng khi đó. Mặc dù được coi là chiếc xe điện tốt nhất thế giới nhưng EV1 vẫn không thể so sánh với động cơ đốt trong.

Một vấn đề nữa là giá của chiếc xe. GM chỉ cho phép thuê EV1 trong 3 năm hoặc 48 nghìn km với giá từ 34 nghìn đến 44 nghìn USD. Giải pháp duy nhất cho EV1 là ngừng sản xuất do không thể hòa vốn.

2002 - Ford Th!nk City

Cháu trai của Henry Ford, Bill Ford, đã mạo hiểm đưa tập đoàn của mình vào nghiên cứu công nghệ xe sạch sau khi ông lên làm chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Ford. Khởi đầu bằng việc mua lại hãng sản xuất xe điện Nauy - Th!nk. Th!nk từng nổi tiếng từ trước đó với những chiếc xe sân gôn đáng tự hào, nhưng với City, thương hiệu này mới có được một chiếc xe thực thụ.

Th!nk City là chiếc xe điện đầu tiên trên thế giới vượt qua kiểm tra va đập và đủ chất lượng chạy đường cao tốc năm 2008. Tốc độ tối đa 105 km/h và giới hạn chạy 210 km/1 lần sạc, tăng tốc lên 50 km/h trong 6,5 giây và lên 80 km/h trong 16 giây.

Tuy nhiên, vào năm 2002, khi Th!nk vẫn còn trong tay Ford, City từng bị thu hồi rất nhiều do các lỗi kỹ thuật. Ford đã quyết định dừng chiến dịch quảng bá cho City và bán lại cho một tập đoàn sản xuất xe điện của Thụy Sĩ, những chiếc City được xuất khẩu ngược lại Nauy do nhu cầu xe điện tại đây đang cao. Th!nk City được sản xuất tiếp vào năm 2007.

2008 - GEM e4

Chrysler đã đầu tư vào hãng sản xuất xe điện Global Electric Motocar họ nhận thấy tiềm năng của thị trường xe điện tốc độ thấp hay còn gọi là NEV (Neighborhood electric vehicle).

Mặc dù chỉ có vận tốc tối đa 40 km/h và giới hạn chạy 48 km nhưng những chiếc xe của GEM được ứng dụng khá rộng rãi và phù hợp yêu cầu của nhiều loại hình công việc. 6 mẫu xe cơ bản của GEM là e2 (2 chỗ), e4 (4 chỗ), e6 (6 chỗ), eS, eL, eL XD (thêm giá chở hàng phía sau) được sử dụng hàng ngày trong các mục đích như đi dạo, tuần tra đường phố hoặc công viên, chớ khách du lịch, bán hàng lưu động, sử dụng trong bệnh viện, sân bay hay sân gôn…

Đến nay, hơn 35 nghìn chiếc GEM đã được sản xuất và tiêu thụ và tiềm năng của GEM vẫn còn rất lớn.

2011 - Chevrolet Volt

Bước phát triển tiếp theo của ngành công nghiệp xe điện được trông chờ vào Chevy Volt, hứa hẹn sẽ được đưa ra thị trường với phiên bản 2011. Mặc dù được Hiệp hội kỹ sư ngành ôtô xếp loại vào xe plug-in hybrid (hybrid sạc điện gia dụng), nhưng nhà sản xuất lại tránh dùng từ “hybrid” để chỉ chiếc xe của họ.

Thay vào đó, nó được mô tả là chiếc “xe điện được mở rộng giới hạn nhờ động cơ đốt trong”. Ý kiến này bắt nguồn từ việc Volt không nối trực tiếp giữa động cơ đốt trong và trục xe, động cơ chỉ đóng vai trò như một máy phát điện, khác với thiết kế hybrid hiện nay. Giới hạn chạy điện của xe là 65 km, sau đó xe sẽ được chuyển sang chạy xăng. Điều đó có nghĩa là với những người đi quãng đường ngắn trong nội thành thì về cơ bản Volt là xe điện!

Khác với chiếc xe điện đầu tiên - EV1, lần này Volt có thiết kế 4 chỗ, tốc độ tối đa lên đến 160km/h, dung tích ắc quy cũng được giảm từ 300L ở EV1 xuống 100L. Xe sử dụng hệ thống động lực Voltec sau này sẽ trở thành hệ thống tiêu chuẩn chế tạo cho xe điện trong tương lai.

Tuy nhiên một lần nữa giá cả lại là vấn đề với GM. Volt từng được ấn định giá khởi điểm 40 nghìn USD nhưng mức giá đó không thể giúp GM sinh lãi. Với hỗ trợ từ phía chính quyền, giá của chiếc xe có thể giảm xuống mức 32.500 USD. Liệu Volt có phải lựa chọn tốt trong danh sách xe hybrid ngày một dài hay không còn là câu hỏi khó.

jeudi 2 juillet 2009

Nhiều người tin cả thần linh và khoa học

Source : vnexpress
Acteur : Minh Long (theo Telegraph)
Date : Thứ năm, 2/7/2009

Phần lớn người tham gia một cuộc khảo sát lớn thừa nhận họ tin thượng đế tồn tại, dù bản thân rất am hiểu thuyết tiến hóa của nhà khoa học vĩ đại Charles Darwin.

Ra đời cách đây 150 năm, thuyết tiến hóa của Charles Darwin vẫn là đề tài gây tranh cãi giữa những người dân. Ảnh:
Ra đời cách đây 150 năm, tác phẩm "Nguồn gốc muôn loài" của Charles Darwin vẫn là đề tài gây tranh cãi. Ảnh: Wikispaces.

Hội đồng Anh tiến hành thăm dò ý kiến của hơn 10.000 người tại 10 quốc gia, trong đó có Anh. Kết quả cho thấy 54% tin vào thần linh dù họ biết rằng cuộc sống trên trái đất phát triển nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên. Chỉ có 19% nói rằng họ không còn tin vào thánh thần sau khi biết học thuyết tiến hóa của nhà tự nhiên học vĩ đại Charles Darwin. Học thuyết này được trình bày trong tác phẩm Nguồn gốc muôn loài xuất bản cách đây 150 năm.

Thành phố London là nơi tỷ lệ người tin vào việc thượng đế tạo ra thế giới cao hơn hẳn so với phần còn lại của nước Anh. 23% người dân tại London phản đối thuyết tiến hóa, trong khi con số trung bình của cả xứ sở sương mù là 16%. Trong số hơn 10.000 người trả lời phỏng vấn, có tới 45% người trưởng thành nói rằng họ từng nghe về Charles Darwin nhưng hiểu rất ít về học thuyết của ông.

Tiến sĩ Fern Elsdon-Baker, giám đốc chương trình Darwin Now của Hội đồng Anh, nhận xét: "Cuộc khảo sát cho thấy, ngay cả ở những đô thị lớn của các nước phát triển, nhiều người dân vẫn mơ hồ về một trong những học thuyết cơ bản nhất của khoa học. Thành tựu của Charles Darwin hoàn toàn dựa trên những chứng cứ có thật. Học thuyết của ông là nền tảng của sinh học hiện đại. Nhưng đến tận ngày nay, người ta vẫn tiếp tục tranh cãi về các lý thuyết của ông".

Tuy nhiên, ông Elsdon-Baker khẳng định mục đích của cuộc khảo sát là tìm hiểu vai trò của khoa học trong đời sống xã hội ngày nay, chứ không phải hình ảnh của Chúa trời hay Charles Darwin trong suy nghĩ của người dân.

dimanche 21 juin 2009

Khi nhà văn ra tay cứu người bị oan sai

Source : vnexpress
Acteur : (Nguồn: Guardian)
Date :
Thứ sáu, 19/06/2009, 15:25


Không chỉ cống hiến cho nhân loại những trang viết bất hủ, bằng trí tuệ sắc sảo và lương tri của người cầm bút, các nhà văn còn tham gia đòi lại công bằng cho những con người bất hạnh trong xã hội.

Tháng 10/1761, Marc-Antoine Calas, con trai của một nhà buôn vải theo đạo Tin lành ở Toulouse, Pháp, được phát hiện đã chết tại cửa hàng của bố sau khi khi dùng bữa tối gồm các món: chim câu, nho, pho mát… cùng cả gia đình ở tầng trên. Jean Calas, cha của nạn nhân, ban đầu khai, thi thể được tìm thấy trên sàn nhà. Sau đó, ông lại khẳng định, Marc-Antoine đã treo cổ bằng một sợi dây thừng. Jean Calas trở thành nghi can số một. Tuy nhiên, ông kháng cự đến cùng, bất chấp bị hành hạ dã man, bị lột trần rồi mang ra bêu xấu ngoài đường. Cuối cùng, Jean Calas vẫn bị kết tội chết. Người ta cho rằng, ông giết con trai vì sợ anh cải đạo sang Công giáo. Người Pháp lúc bấy giờ theo Công giáo là chính.

Tuy nhiên, nhà văn, nhà triết học Voltaire cảm thấy Jean Calas vô tội sau khi gặp gỡ người con trai khác của ông là Donat Calas. Ngay lập tức, nhà văn bắt tay vào điều tra. Ông gặp gỡ quả phụ của nạn nhân là Anne-Rose và phát động chiến dịch yêu cầu xem xét lại vụ án. Cuối cùng, tháng 3/1765, Calas được minh oan. Anne-Rose - bị cho là đồng phạm - cũng được tha bổng và bồi thường.

Nhà văn Voltaire.
Nhà văn Voltaire.

Đó là một trong những vụ việc thể hiện rõ vai trò của nhà văn trong việc chỉnh lại cán cân công lý. Emile Zola - một nhà văn nổi tiếng khác - cũng từng gây xôn xao dư luận với vai trò nổi bật của mình trong vụ án Dreyfus. Alfred Dreyfus, là một đại tá gốc Do thái bị kết tội làm gián điệp cho Phổ. Những bằng chứng dùng để kết tội thực ra đều được làm giả - xuất phát từ sự phân biệt đối xử của nước Pháp đối với người Do thái. Zola đã thức tỉnh dư luận bằng một bài báo mang tên J'Accuse! (Tôi kết tội!), thúc đẩy việc điều tra, xét xử lại vụ án Dreyfus. Trong quá trình đấu tranh tìm lại lẽ công bằng cho viên đại tá, nhà văn từng bị kết tội vu khống, bị phạt tiền và phải sống lưu vong. Nhưng cuối cùng, Dreyfus đã được minh oan.

Nước Anh không có Voltaire và Zola; nhưng những nhà văn từ Daniel Defoe, Henry Fielding đến Charles Dickens, thay vì che chở, cứu rỗi một cá nhân cụ thể, đều đã tham gia vào những chiến dịch đòi cải cách xã hội. Ở Anh, góp công lớn vào những cuộc chiến đòi lại công lý phần lớn là các nhà báo hoặc các luật sư. Nhà văn, nhà báo Ludovic Kennedy là người đã lập được công trạng gần với trường hợp của Voltaire. Ông là tác giả của rất nhiều cuốn sách đặt ra nghi vấn về các vụ án oan trong lịch sử Anh. Trong đó có cuốn Ten Rillington Place đề cập đến Timothy Evans, người bị kết tội chết vì đã sát hại con gái ruột của mình. Kennedy khẳng định, Evans không giết người. Con gái anh là nạn nhân của một kẻ giết người hàng loạt tên là John Christie. Evans sau đó đã được ân xá sau chết. Ten Rillington Place về sau đã được chuyển thể thành phim.

Cũng giống như các đồng nghiệp ở Anh và Pháp, nhà văn Mỹ cũng không kém lý trí và có trách nhiệm trong việc can thiệp vào những vụ oan sai trong xã hội. Một trong những vụ việc đó đã trở thành cảm hứng cho nhà văn Harper Lee viết kiệt tác bất hủ Giết con chim nhại kể về số phận của một người đàn ông da đen bị buộc tội cưỡng hiếp một phụ nữ da trắng.

Không dùng cảm hứng để viết tiểu thuyết như Harper Lee, John Grisham lại viết một cuốn sách người thực việc thực mang tên An Innocent Man (Một người vô tội - 2006). Tác phẩm kể về việc làm tắc trách của các cảnh sát khi điều tra về cái chết của một nữ nhân viên pha cocktail ở Oklahoma năm 1982. Trong vụ đó, Ron Williamson và Dennis Fritz bị kết tội. Nhưng năm 1999, họ được minh oan sau khi có những xét nghiệm AND cẩn thận.

jeudi 18 juin 2009

Ngưng truyền hình analog, dân Mỹ cũng rối

Source : thanhnien
Acteur : Theo LA Times, CNN, Tuổi Trẻ
Date : 18/06/2009 14:27

Thứ sáu tuần qua 12-6, nước Mỹ đã chấm dứt phát sóng truyền hình analog có từ những năm 1940 để thay bằng truyền hình kỹ thuật số có chất lượng tốt hơn. Dù được chuẩn bị khá kỹ cho cuộc chuyển đổi này, nhưng một bộ phận người dân nước Mỹ vẫn gặp rắc rối.

Ủy ban Truyền thông liên bang Mỹ (FCC) cho biết trong ngày thứ bảy, tức một ngày sau khi chấm dứt truyền hình analog, 4.000 nhân viên của họ đã nhận hàng trăm ngàn cuộc điện thoại về vấn đề này. Trung bình mỗi cuộc điện thoại tư vấn viên phải nói chuyện trong vòng 8,4 phút, và người dân gọi đến phải chờ trung bình 4,6 phút để đến lượt mình.

Câu hỏi họ nhận được nhiều nhất là nhiều người bị mất một số kênh khi chuyển từ truyền hình analog sang kỹ thuật số. Và điều đơn giản họ phải làm chỉ là bấm vào danh mục trên hộp chuyển tín hiệu giúp tivi thế hệ cũ bắt được truyền hình kỹ thuật số rồi bấm tiếp dò kênh lại. Ngoài ra nhiều người cũng quên lắp ăngten mới - điều cần thiết khi chuyển từ truyền hình analog sang truyền hình kỹ thuật số.

Đa số người gặp phải rắc rối này là những người già, thuộc thế hệ chỉ biết bật và tắt tivi mà không biết sử dụng chức năng nào khác. Họ thuộc nhóm người già, nghèo và không nói được tiếng Anh. Nhiều người đã bỏ cuộc vì quá thất vọng khi không dò được truyền hình kỹ thuật số.

Laura Wilson, một phụ nữ 73 tuổi sống tại Bolton Hill, là một ví dụ điển hình. Dù đã được các tình nguyện viên chỉ dẫn tận tình cách sử dụng hộp chuyển tín hiệu - mua với giá 50 USD do đã được chính phủ trợ giá - nhưng cuối cùng khi đến lúc các chương trình truyền hình analog bị cắt thì bà Wilson vẫn không biết xử lý ra sao.

Năm 2005, Quốc hội Mỹ đã lần đầu tiên đề nghị thay truyền hình analog bằng truyền hình kỹ thuật số. Sau đó kế hoạch này được dời lại đến tháng 1-2009 nhưng phải mãi đến tháng 6-2009 Chính phủ Mỹ mới có thể thực hiện kế hoạch này. Nguyên nhân vì vào đầu năm 2009 vẫn có khoảng 6,5 triệu hộ dân chưa chuẩn bị cho sự thay đổi này.

Trước thời điểm thứ sáu tuần trước, có 12-15 triệu người dân Mỹ sử dụng truyền hình analog miễn phí.

vendredi 12 juin 2009

Phát minh khởi nguồn cách mạng công nghiệp

Source : vnexpress
Acteur : Minh Long (theo Newscientist, Wikipedia)
Date : Thứ sáu, 12/6/2009, 11:17 GMT+7

Cỗ máy hơi nước đầu tiên của nhân loại do Thomas Newcomen phát minh đã giúp nước Anh đáp ứng nhu cầu năng lượng trong nửa đầu thế kỷ 18, tạo điều kiện cho sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.

Mô hình cỗ máy hơi nước Newcomen. Ảnh: inventors.about.com.

Thomas Newcomen chào đời vào ngày 24/2/1663 tại thành phố Darthmouth, hạt Devonshire (Anh). Vào thời đó ngành khai thác thiếc phát triển mạnh ở Darthmouth. Có tài liệu cho rằng ngay từ nhỏ ông đã học nghề thợ rèn. Khi lớn lên Newcomen buôn bán và chế tạo các công cụ bằng sắt dành cho ngành khai thác mỏ tại Darthmouth.

Nhiều mỏ khai khoáng thời đó được đào sâu đến nỗi nước thường xuyên tràn vào, gây nên tình trạng ngập lụt. Để có thể tiếp tục khai thác than người ta phải tìm ra biện pháp bơm nước ra khỏi hầm. Thực tế ấy khiến Newcomen trăn trở. Ông muốn chế tạo một cỗ máy có khả năng bơm nước từ thấp lên cao. Năm 1712, Newcomen chế tạo thành công cái mà ông gọi là “cỗ máy không khí”, nhưng người ta thường gọi là cỗ máy hơi nước. Nhiều học giả ở thế kỷ 18 và 19 ghi lại rằng, ông đã mất 10-15 năm để nghiên cứu nó.

Hình vẽ thể hiện nguyên lý hoạt động của cỗ máy Newcomen. Ảnh: Wikipedia.
Hình vẽ thể hiện nguyên lý hoạt động của cỗ máy Newcomen. Chuyển động lên xuống của pit-tông được truyền sang máy bơm nhờ đòn cân bằng. Ảnh: Wikipedia.

Nguyên lý hoạt động của cỗ máy Newcomen rất đơn giản. Hơi nước được đưa vào một xi lanh, buộc pit-tông chuyển động ra ngoài. Nước lạnh được phun vào pit-tông khiến hơi nước ngưng tụ và tạo ra môi trường chân không. Áp suất không khí buộc pit-tông quay trở lại vị trí ban đầu của nó. Sau đó hơi nước lại tràn vào xi lanh để tiếp tục chu trình mới. Công năng phát sinh từ chuyển động qua lại của pit-tông được truyền tới máy bơm thông qua một đòn cân bằng. Nhờ đó mà máy bơm có thể hút nước liên tục.

Cỗ máy của Newcomen được sử dụng rộng rãi tại hàng nghìn mỏ than trên khắp nước Anh và cứu nhiều chủ mỏ khỏi cảnh phá sản. Nó giữ vị trí độc tôn suốt 3/4 thế kỷ cho đến khi John Smeaton rồi James Watt cải tiến động cơ hơi nước.

Một cỗ máy hơi nước Newcomen trong mỏ than. Ảnh: csa.com.
Một cỗ máy hơi nước Newcomen trong mỏ than. Ảnh: csa.com.

Newcomen qua đời tại London vào ngày 5/8/1729. Do có công chế tạo cỗ máy hơi nước đầu tiên trong lịch sử nhân loại, ông được coi là người đặt nền móng cho cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất. Phát minh của Newcomen đã giải quyết được cuộc khủng hoảng năng lượng trong thế kỷ 18, bởi nó cho phép người ta khai thác những mỏ than sâu mà trước kia họ không thể với tới do tình trạng ngập nước. Khi nhu cầu to lớn về than được đáp ứng, nền sản xuất của nước Anh phát triển mạnh mẽ và tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp. Nhưng cũng có nhiều nhà khoa học cho rằng, sự ra đời của máy hơi nước Newcomen đánh dấu kỷ nguyên mà trong đó con người lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch.