Affichage des articles dont le libellé est ThienNhien. Afficher tous les articles
Affichage des articles dont le libellé est ThienNhien. Afficher tous les articles

mercredi 28 octobre 2009

phân voi

Công ty Maximus tại quốc đảo Sri Lanka
thiệp từ phân voi
quá trình nghiền bột diễn ra ngay trong dạ dày của voi: “Chúng tôi nhận ra là phân voi có một lượng xenlulo rất cao. Vì vậy, thử dùng phân voi để làm giấy cũng tự nhiên thôi”.
giám đốc Thusitha Ramsinghe của Maximus
Phân tươi được phân loại, phơi nắng, luộc. Sau đó bột được ép để làm thành các tờ giấy. Giấy này, đắt hơn giấy nhập vào Sri Lanka chút xíu, có thể dùng để làm thiệp tặng, thực đơn, thiệp mời, và một loạt sản phẩm xa xỉ khác. Trung bình mỗi tấm thiệp làm từ nguyên liệu đặc biệt này có giá từ 20 tới 30 USD.
75% nguyên liệu đều là phân voi
Đưa tấm danh thiếp này lên ngửi, không hề có mùi khó chịu mà ngược lại nó còn mang theo hương thơm nhẹ nhàng như mùi cỏ khô.
Không ít doanh nhân nổi tiếng hay các quan chức Chính phủ người Srilanka giờ đây tự hào ghi đằng sau tấm danh thiếp của mình mỗi khi đưa tặng cho đối tác: “Tấm danh thiếp của tôi được tái chế từ phân voi đó”
một số khách hàng cao cấp như khách sạn Hilton, các hãng hàng không Sri Lanka, HSBC, Ngân hàng Ceylon…
Mỗi năm, công việc chế tác các sản phẩm từ phân voi mang lại cho mối người khoảng 270.000 USD.
một con voi trưởng thành trung bình một ngày có thể cung cấp hơn 100 kg “nguyên liệu”. Trong khi đó một kg phân voi có thể chế tạo ra hơn 60 tờ giấy kích cỡ A4.

dimanche 21 juin 2009

Bướm xanh hồi sinh sau 30 năm tuyệt chủng

Source : thanhnien
Acteur : Tạ Xuân Quan (Theo Dailymail)
Date : 20/06/2009 22:28

30 năm trước, các nhà khoa học Anh chính thức tuyên bố loài bướm xanh độc đáo của nước này đã tuyệt chủng.


Thế nhưng, mọi người đã chứng kiến sự hồi sinh đáng kinh ngạc của loài bướm khá đẹp này. Mùa hè này, đã có khoảng 20 ngàn con bướm xanh trở lại đồng quê nước Anh nhờ vào những nỗ lực phục hồi của các nhà khoa học.

Bướm xanh là loài có nguy cơ tuyệt chủng rất cao và có môi trường sống rất kén chọn. Chúng sinh sống tại những sườn đồi, bãi cỏ cùng với loài kiến đỏ, không có những “căn nhà” do kiến đỏ tạo ra thì bướm xanh cũng bị khai tử. Sự thay đổi của kỹ thuật canh tác đã làm hủy hoại môi trường sống của hai loài động vật nói trên, chúng dần bị giảm số lượng và đến năm 1979 thì hoàn toàn biệt dạng.

Trong quá trình phát triển, ở giai đoạn trước khi lột xác thành bướm, con sâu bướm tiết ra một hoạt chất trên da làm cho loài kiến đỏ cứ ngỡ đó là ấu trùng của chúng. Nhờ vậy sâu bướm sống ký sinh trong tổ kiến đỏ suốt 10 tháng trời trước khi biến thành bướm xanh để bay đi vào mùa xuân.

Từ những năm 1980, các nhà khoa học đã thử nhập bướm xanh và kiến đỏ từ Thụy Điển để nghiên cứu việc phục hồi chúng tại nước Anh. Đến nay, có thể nói họ đã thành công vì số lượng bướm xanh đã nhiều hơn năm 1950. (Theo Dailymail)

jeudi 11 juin 2009

Chim ruồi là động vật nhanh nhất hành tinh

Source : vnexpress
Acteur : Minh Long (theo Telegraph)
Date : Thứ năm, 11/6/2009, 15:09 GMT+7

Khi phản lực cơ chiến đấu tăng ga hết cỡ và tàu vũ trụ trở về trái đất, chúng sẽ lao với tốc độ khủng khiếp. Nhưng nếu xét về mặt tương đối, những tốc độ ấy thua xa cú bổ nhào của chim ruồi.

Khi bổ nhào xuống, chim ruồi bay được quãng đường gấp
Khi bổ nhào xuống, chim ruồi bay được quãng đường gấp 385 lần chiều dài cơ thể trong một giây. Ảnh: ehow.com.

Chim ruồi (chim ong) là một họ chim nhỏ sống ở Bắc Mỹ. Khi bay chúng có thể đứng yên một chỗ với tần số đập cánh lên tới 70 lần/giây. Đây là loài chim duy nhất trên hành tinh có khả năng bay lùi. Hơn 300 loài chim ruồi đều ăn mật hoa. Chúng sở hữu chiếc mỏ dài (tới 10 cm) để thọc sâu vào nhiều loài hoa. Lưỡi của chim ruồi cũng khá dài để chúng có thể hút mật hoa dễ dàng.

Cánh chim ruồi không giống cánh của bất kỳ loài chim nào khác. Chúng có thể hoạt động tự do theo chiều hướng của vai, giúp chim có thể bay đứng yên một chỗ, bay lùi và giữ cho đầu chim cố định. Chúng thường bay với tốc độ xấp xỉ 50 km/h. Trong mùa sinh sản những con đực phải thực hiện nhiều cú bổ nhào xuống để quyến rũ chim cái.

Khi chim ruồi cái bay vào lãnh địa của con đực, “anh chàng” sẽ bay lên cao rồi đột ngột bổ nhào xuống. Con vật đạt tốc độ tối đa ở điểm cuối cùng trong quỹ đạo của cú bổ nhào. Khi ấy nó kêu rất to và xòe lông đuôi để gây sự chú ý của con chim cái.

Một con chim ruồi đực chuẩn bị bổ nhào xuống để gây ấn tượng với con cái. Ảnh: pbase.com.
Một con chim ruồi đực chuẩn bị bổ nhào xuống để gây ấn tượng với con cái. Ảnh: pbase.com.

Để đo tốc độ của chim ruồi khi chúng lao xuống, các nhà khoa học của Đại học California sử dụng hàng chục camera có khả năng ghi hình những chuyển động nhanh. Kết quả phân tích hình ảnh cho thấy, chim ruồi đực có thể đạt tốc độ 92,8 km/h khi chúng bổ nhào từ độ cao 30 mét để gây ấn tượng với chim cái. Do chiều dài thân trung bình của chim ruồi là 10 cm nên với tốc độ đó, cứ mỗi giây chúng bay được quãng đường gấp 385 lần chiều dài cơ thể.

Trong khi đó, một phi cơ phản lực chiến đấu bay được quãng đường gấp 150 lần chiều dài thân mỗi giây khi tăng hết tốc lực. Tàu vũ trụ con thoi bay được quãng đường gấp 207 lần chiều dài thân khi chúng quay trở về quả đất. Trong quá trình bổ nhào, chim ruồi hứng chịu một lực lớn gấp 10 lần lực hút của trái đất. Ngay cả những phi công lái máy phản lực cơ chiến đấu dày dạn kinh nghiệm nhất cũng phải nôn mửa khi hứng chịu lực có độ lớn tương tự.

Trước khi nghiên cứu trên được công bố, kỷ lục về tốc độ trong thế giới động vật thuộc về chim cắt. Loài chim này bay với tốc độ tối đa khi chúng đuổi theo con mồi và bổ nhào xuống để tấn công.

mardi 9 juin 2009

Giải mã bí ẩn về khả năng trườn của rắn

Source : VnExpress
Acteur : Minh Long (theo Newscientist)
Date : Thứ ba, 9/6/2009, 17:12 GMT+7

Các nhà khoa học Mỹ vừa tìm ra bí quyết giúp rắn bò trên những mặt phẳng nhẵn. Phát hiện giúp chúng ta giải quyết một trong những bí ẩn lâu đời nhất, đồng thời giúp các kỹ sư thiết kế những robot tìm kiếm và cứu hộ hiện đại hơn.

Rắn sữa Pueblan. Ảnh: bcsnakes.com.
Rắn sữa Pueblan. Ảnh: bcsnakes.com.

Toàn thân rắn được bao phủ một lớp vảy, song vảy của chúng hoàn toàn khác với vảy cá. Vảy rắn là do tầng sừng ở phía ngoài cùng của da biến thành nên cũng được gọi là vảy sừng, trong khi vảy của đại đa số các loài cá là tầng chân bì phía trong cùng của da biến thành. Vảy rắn dẻo dai, không thấm nước. Sự phát triển của vảy không tương ứng với sự lớn lên của cơ thể. Rắn lớn lên nhờ những lần lột xác. Sau mỗi lần lột xác, vảy mới sẽ lớn hơn vảy cũ một chút. Vảy rắn, không chỉ ngăn chặn sự bốc hơi của nước, giúp cơ thể khỏi bị tổn thương, mà còn giúp chúng di chuyển.

Vảy trên thân rắn có 2 loại: vảy bụng (ở chính giữa bụng, tương đối lớn và có hình chữ nhật) và vảy thân (nhỏ hơn vảy bụng và nằm ở hai bên vảy bụng kéo dài đến mặt lưng). Vảy bụng kết nối với xương sườn thông qua cơ sườn.

Rắn không có xương mỏ ác, nên xương sườn có thể cử động tự do theo hai chiều trước và sau. Khi cơ sườn co bóp, xương sườn tiến về phía trước khiến vảy bụng hơi vểnh lên. Đầu nhọn của vảy cọ xát với các vật thể bên dưới, đẩy cơ thể tiến về phía trước theo hình sóng.

Nhiều người biết rắn tận dụng lực ma sát của đá, rác và các vật thể khác khi trườn qua địa hình gồ ghề. Nhưng chưa ai giải thích được tại sao chúng di chuyển được trên bề mặt trơn hoặc nhẵn – nơi mà lực ma sát rất nhỏ hoặc không tồn tại. David Hu – một chuyên gia về sự di chuyển của động vật của Viện công nghệ Georgia (Mỹ) – tuyên bố ông và đồng nghiệp đã tìm ra câu lời.

Nhóm nghiên cứu tiến hành gây mê đối với 10 con rắn sữa Pueblan (loài rắn không có nọc độc, dài trung bình 35 cm, trên thân có những dải màu đỏ, đen, vàng và trắng). Sau khi thuốc mê phát huy tác dụng, họ tính toán lực mà chúng cần tạo ra để bò theo nhiều hướng. Kết quả cho thấy, lực mà rắn cần để di chuyển sang ngang lớn gấp đôi so với lực để chúng di chuyển về phía trước song lại bằng 50% so với lực mà rắn tạo ra để lùi.

Nhóm chuyên gia còn ghi hình những cử động của rắn để phân tích. Họ nhận thấy vài đoạn trên cơ thể chúng nâng khẽ lên khỏi bề mặt bên dưới khi di chuyển. Thủ thuật này giúp rắn giảm được sự cọ xát không cần thiết, đồng thời tạo ra áp suất lớn hơn lên những phần đang đẩy chúng về phía trước. Khi Hu kết hợp hai chuyển động trên vào mô hình máy tính, ông nhận thấy con rắn ảo trườn nhanh và uyển chuyển như rắn thật.

Lakshminarayanan Mahadevan, một nhà toán học của Đại học Harvard (Mỹ), đã nghiên cứu chuyển động của rắn trong nhiều năm. Ông cho biết, giới khoa học biết về các đặc tính ma xát của da rắn từ thập niên 40 của thế kỷ trước, song Hu là người đầu tiên kết hợp thao tác nhấc thân và cọ xát để giải thích bí mật của rắn.

Phát hiện của Hu có thể giúp các kỹ sư thiết kế những robot tìm kiếm và cứu hộ trong các tòa nhà sập mỗi khi có động đất hay chiến tranh. Trước đây các nhà phát minh đã tạo ra nhiều robot có hình dạng giống rắn, song chúng không thể di chuyển trên những bề mặt nhẵn. Hu cho rằng robot có thể làm điều đó nếu chúng được bọc trong lớp da có khả năng bắt chước vảy rắn.

mercredi 5 novembre 2008

Túi nilon giết chết cá sấu

Ngày 1/11, cơ quan Bảo vệ môi trường bang Queensland, Australia

25 túi nilon để mua hàng và đựng rác trong dạ dày con vật
với một phao cao su và túi ướp rượu

nén chặt trong dạ dày con cá sấu khiến nó không thể tiêu hóa thức ăn
Không một con vật nào có thể sống sót sau khi nuốt chừng ấy thứ vào dạ dày

con cá sấu có chiều dài 3,5 mét nuốt các túi nilon trong một thời gian dài để tự kết liễu mạng sống
lượng rác thải ở biển đã lên đến mức đáng sợ

mercredi 29 octobre 2008

Crystals Cave






Naica, Chihuahua, Mexico

A forest of crystals, the biggest ones on the Planet
A cave with a temperature of 50° C and 100% humidity; an infernal place, where man can survive just a few minutes. Still unexplored.
chiếc cột to nhất có chiều cao lên tới 11m.
hình thành các cột pha lê này được bắt đầu từ cả triệu năm trước, do sự tích tụ của hợp chất CaSO4 (Canxi Sunphát), được tạo ra trong các hoạt động phun trào núi lửa.
khoảng 600.000 năm trước, khi các lớp mắc ma nguội dần thì các khoáng chất bắt đầu kết quá trình kết tủa.
nhiệt độ ở đây lên tới 44 độ C, còn độ ẩm là 90 đến 100%
bảo vệ hang bằng một cánh cửa sắt rất nặng

jordanprotocell.nexo
laventa.it

vendredi 24 octobre 2008

Vermilion Cliffs

khu bảo tồn quốc gia
rộng 0,3 ha
giáp ranh giữa bang Arizona và Utah.
nơi lưu giữ hàng nghìn dấu chân khủng long
Nhóm nghiên cứu của Đại học Utah gọi nó là "sàn nhảy của khủng long" vì ở đây có hơn 1.000 dấu chân của các loài động vật thời tiền sử.
Nhiều dấu chân có niên đại lên tới 190 triệu năm.
có ít nhất 4 loài khủng long từng tới "sàn nhảy".
"Những cỡ chân khác nhau, từ 2,5 cm tới 50 cm, cho thấy nhiều khủng long mẹ đã đưa đàn con tới đây", Winston Seiler
còn nhìn thấy nhiều vệt đuôi dài tới 7 mét
các dấu vết của khủng long đã bị bao phủ bởi cát trước khi lộ thiên nhờ quá trình xói mòn đất trong nhiều năm
tương lai, chúng sẽ biến mất bởi chính sự xói mòn đất.
giúp các nhà khoa học tìm hiểu nguyên nhân khiến khủng long có thể sống sót trên những vùng sa mạc rộng lớn và khắc nghiệt.

mercredi 8 octobre 2008

TIẾN HÓA CỦA NGƯỜI

Loài người đang ngừng tiến hóa?
Thứ ba, 7/10/2008, 16:30 GMT+7

Các nhà khoa học và tiểu thuyết gia viễn tưởng cố gắng phác họa hình dáng tiếp theo của con người trong tương lai, nhưng GS Steve Jones thuộc ĐH London cho rằng quá trình đó đang tạm ngừng.

Theo Steve Jones: "Giờ đây loài người biết rõ về bản chất diễn biến của sự tiến hóa nên có thể dự đoán được những gì sẽ xảy ra trong tương lai”.

Ông cho biết, sự tiến hóa của con người chịu tác động từ sự chọn lọc của tự nhiên và quá trình biến đổi gene nhưng “trong tương lai những yếu tố này sẽ không còn có vai trò quan trọng trong cuộc sống của chúng ta nữa”.

Trong suốt chiều dài lịch sử, nhân loại từng chứng kiến các thảm họa gây ra cái chết hàng loạt ở những đứa trẻ chưa tới tuổi vị thành niên. "Trong những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và khi trí tuệ con người chưa phát triển, tự nhiên là vị quan tòa có phán xét quyền sống và chết", GS Jones nói.

92.jpg
Có ý kiến cho rằng con người đang bước đến mức cao hơn trong bậc thang tiến hóa nhưng cũng có ý kiến cho rằng con người sẽ tiến hóa lùi vì xem tivi quá nhiều

Nhưng chính điều kiện đó khiến cho quá trình tiến hóa của con người diễn ra. Trong thời kỳ băng hà ở nước Anh, những đứa trẻ có khả năng chịu rét tốt đã tồn tại được và để lại cho thế hệ sau những yếu tố đó trong gene di truyền.

Theo GS Jones, khi con người hiểu biết hơn, thông minh hơn cuộc sống hiện đại đầy đủ tiện nghi (như lò sưởi, nguồn thực phẩm dồi dào) khiến các thế hệ sau không có thêm ưu điểm tiến hóa nào trong khi sự khắc nghiệt của tự nhiên vẫn đang không ngừng tiến xa hơn. Đó là nguyên nhân đầu tiên khiến con người ngừng tiến hóa.

Nguyên nhân tếp theo là do chất lượng tinh trùng của người đàn ông có xu hướng kém đi và chứa nhiều gene bị lỗi hơn, GS Jones cho biết.

Một yếu tố thứ ba ảnh hướng tới quá trình tiến hóa của con người theo GS Jones là yếu tố ngẫu nhiên và cũng là yếu tố quan trọng. Khả năng biến đổi gene, thay đổi các đặc điểm cơ thể ở một bộ phận cư dân trái đất sống biệt lập với phần còn lại của thế giới là hoàn toàn có thể xảy ra.

Nhưng dưới tác động của toàn cầu hóa, sự kết nối giữa các bộ phận cư dân trái đất đang ngày càng gia tăng khiến cho khả năng này ngày càng thu hẹp lại.

Theo Tuấn Linh

http://tintuconline.com.vn/vn/khampha/226749/

vendredi 3 octobre 2008

VI KHUẨN

KHẢ NĂNG TIÊN ĐOÁN CỦA VI KHUẨN

Vi khuẩn là một sinh vật đơn bào đơn giản
Vi khuẩn có thể đoán trước những sự kiện xảy ra đều đặn.
Vi khuẩn có thể biết trước những sự kiện không thường xuyên với điều kiện chúng phải nhận được một tín hiệu đáng tin cậy trước đó.
Khả năng tiên đoán của vi khuẩn là khá linh hoạt và phát sinh trong quá trình chọn lọc tự nhiên.

jeudi 2 octobre 2008

BÃO

Tâm bão nhìn từ vũ trụ

Thứ năm, 2/10/2008, 16:44 GMT+7

Phi hành gia của NASA ghi lại hình ảnh của các trận cuồng phong của thiên nhiên từ ngoài trái đất.

Cơn bão Isabel gây thiệt hại nặng nề nhất về người và của ở Mỹ năm 2003. Ảnh: NASA.
Ảnh: NASA.
Mắt bão Catarina được các phi hành gia trên trạm vũ trụ quốc tế ISS chụp lại hôm 27/3/2004 khi nó đổ vào bang Catarina của Brazil. Ảnh: NASA.
Mắt bão Ivan, một trong những cơn bão mạnh nhất trong lịch sử, ghi lại ngày 11/9/2004. Lúc này, bão đang càn quét qua phía tây biển Caribbe và vận tốc gió lên tới 257 km/h. Ảnh: NASA.
Bão Ivan tiến vào duyên hải bang Alabama, Mỹ, chiều 15/9/2004. Ảnh: NASA.
Mắt bão Emily do các phi hành gia trên trạm vũ trụ quốc tế ISS chụp hôm 16/7/2005. Cơn bão này đang ở phía nam Vịnh Mexico và tiến về tây bắc biển Caribbe với tốc độ gió lên tới 249 km/h. Ảnh: NASA.
Bão Felix khi nó càn quét qua đảo Honduras ngày 3/9/2007. Ảnh: NASA.
Mắt bão Gordon chụp bằng một máy ảnh kỹ thuật số hôm 18/9/2006. Cơn bão này ảnh hưởng từ Mỹ tới châu Âu.
Cơn bão Ike dữ dội ở Đại Tây Dương hôm 4/9/2008. Cơn bão này quét từ Cuba tới Mỹ. Ảnh: NASA.

Hải Ninh

LÁ ĐỎ

Tại sao lá cây có màu đỏ vào mùa thu

Thứ năm, 2/10/2008, 20:12 GMT+7

Do màu vàng thu hút sự chú ý của côn trùng có hại, nhiều loài cây đối phó bằng cách tự nhuộm đỏ lá của chúng để giảm bớt tổn thất vào mùa thu, càng tôn thêm nét lãng mạn đầy màu sắc của mùa này trong năm.

Lá cây đổi màu là một trong những hiện tượng báo hiệu mùa thu đến, nhưng tại sao lá của một số loài chuyển sang màu đỏ? Câu hỏi này khiến các nhà sinh học bối rối suốt nhiều thập kỷ. Giờ đây tiến sĩ Thomas Doring, giảng viên tại Đại học Imperial College London (Anh) đề xuất một cách giải thích mới.

Thomas cùng hai cộng sự đặt giả thiết rằng lá cây tạo ra sắc tố đỏ vì tránh màu vàng thu hút sự chú ý của các côn trùng gây hại như rệp vừng. Sắc tố vàng hiện diện trên lá vào cả mùa xuân và mùa hè, nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy nó vào mùa thu khi lá cây ngừng sản xuất chất chlorophyll tạo ra màu xanh trước khi rụng.

Còn màu đỏ được tạo ra bởi một loại sắc tố có tên anthocyanin. Nhiều loài cây cối sản xuất sắc tố này vào mua thu trước khi lá rụng.

Để kiểm tra giả thiết, ba nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu xu hướng lựa chọn màu sắc của rệp vừng khi chúng tìm tới cây vào mùa thu để giao phối và đẻ trứng. Họ bôi 70 màu khác nhau lên 140 đĩa rồi đổ đầy nước để theo dõi số lượng rệp vừng đậu trên mỗi đĩa.

Hai tuần sau, nhóm nghiên cứu nhận thấy số lượng rệp trên những đĩa màu xanh dương nhiều gấp hơn ba lần so với đĩa có màu đỏ, nhưng đĩa màu vàng lại thu hút được số lượng rệp nhiều gấp 4 lần so với đĩa xanh.

Màu đỏ giúp cây xua đuổi côn trùng gây hại trong mùa thu. Ảnh:
Màu đỏ giúp cây xua đuổi côn trùng gây hại trong mùa thu. Ảnh: tinypic.com.

Sau đó, tiến sĩ Thomas dùng màu sắc của vài trăm loại lá thuộc nhiều loài cây để bôi lên đĩa và lặp lại thử nghiệm. Kết quả cho thấy những lá màu đỏ không thu hút được nhiều rệp bằng lá xanh và vàng. Từ thí nghiệm này nhóm chuyên gia nhận định lá một số loài cây chuyển màu đỏ để chống lại rệp vừng. Nếu loài côn trùng này đậu lên lá để đẻ trứng với số lượng lớn, sự sinh trưởng của cây có thể chậm lại và sức khỏe của chúng sẽ giảm sút.

Lợi ích của màu đỏ đã rõ ràng, nhưng tại sao lá của một số loài cây vẫn chuyển màu vàng khi mùa thu tới? “Về mặt lý thuyết, thực vật phải hứng chịu tổn thất cho việc chuyển sang màu đỏ. Nếu thiệt hại mà côn trùng gây ra lớn hơn tổn thất phát sinh từ việc sản xuất sắc tố đỏ vào mùa thu, lá cây sẽ có xu hướng chuyển sang màu đỏ. Ngược lại, nếu thiệt hại do côn trùng gây ra thấp hơn, cây sẽ giữ lại màu vàng trên lá”, tiến sĩ Thomas giải thích.

Thomas và hai cộng sự sẽ tiếp tục tìm hiểu những tác động của rệp vừng đối với sức khỏe của lá cây và sự khác biệt về hành vi của rệp vừng khi đậu trên lá màu đỏ, màu xanh và màu vàng. Theo nhiều chuyên gia, phát hiện nói trên của các nhà khoa học có ý nghĩa to lớn. Ít nhất thì mọi người đã hiểu rằng, nếu muốn xua đuổi lũ côn trùng gây hại khỏi ruộng đồng vào mùa thu, chúng ta nên trồng nhiều loại cây lá đỏ.

Việt Linh (theo Physorg)

KHỦNG LONG

Khủng long có cánh không biết bay

Thứ sáu, 3/10/2008, 10:47 GMT+7

Trong các bộ phim, chúng tung hoành trên không trung với tốc độ khủng khiếp. Nhưng trên thực tế, lũ khủng long bay hầu như không thể thoát khỏi mặt đất vì quá nặng.

Sau khi phân tích kiểu bay của 28 loài chim, các nhà khoa học của Đại học Tokyo (Nhật Bản) khẳng định rằng thằn lằn ngón cánh, nặng tới 250 kg và được coi là loài động vật biết bay lớn nhất từng xuất hiện trên Trái đất, không thể đập cánh đủ nhanh để bay lên không trung. Chúng chỉ đủ sức lượn một quãng ngắn từ các vách đá xuống đất.

Nhưng các chuyên gia về hóa thạch lại nói những bộ xương của thằn lằn ngón cánh tiến hóa theo hướng giúp chúng bay lên.

Thằn lằn ngón cánh xuất hiện trên hành tinh khoảng 251 triệu năm trước và vẫn tiếp tục sống sót sau khi khủng long bị tuyệt chủng bởi một thảm họa cách đây 65 triệu năm.

Về mặt sinh học, chúng không phải khủng long, mà là những động vật bò sát có cánh thời tiền sử.

Thằn lằn ngón cánh trong một bộ phim. Ảnh:
Thằn lằn ngón cánh trong một bộ phim. Ảnh: makingmovies.tv.

Giáo sư Katsufumi Sato của Đại học Tokyo và các cộng sự nghiên cứu nhiều loài chim ở quần đảo Crozet (nằm giữa Madagascar và Nam Cực). Bằng cách gắn các thiết bị đo gia tốc vào cánh của 28 loài rồi theo dõi hoạt động bay của chúng, ông kết luận rằng những con vật có trọng lượng lớn hơn 40 kg không thể đủ sức đập cánh nhanh để duy trì trạng thái lơ lửng trên không. Điều đó giải thích tại sao hải âu lớn, một trong những loài chim to nhất thế giới, chỉ có trọng lượng tối đa 22 kg.

"Tốc độ vỗ cánh tối đa của một con chim bị giới hạn bởi sức mạnh cơ bắp. Sải cánh của những loài chim lớn thường dài. Nhưng sải cánh càng dài thì tốc độ vỗ cánh càng giảm. Do đó, một con chim có trọng lượng 40 kg trở lên không thể bay một cách an toàn trong điều kiện thời tiết xấu", Sato phát biểu.

Nhưng một số chuyên gia không đồng ý với kết luận của Sato. Tiến sĩ Mike Habib của Đại học Y khoa John Hopkins, bang Maryland (Mỹ), phát biểu: "Ngưỡng 40 kg của Sato có vấn đề. Ông ấy chưa tính tới những khác biệt về mặt giải phẫu, sinh lý và môi trường giữa thằn lằn bay và chim".

Việt Linh (theo Daily Mail)

mercredi 24 septembre 2008

MÙA THU

Cảnh đẹp lá mùa thu

Sắc vàng đỏ bắt đầu bao phủ các tán rừng, công viên, hồ nước... khi mùa thu tới. Đây cũng là mùa mà cảnh sắc tương phản nhất trong năm.

Mùa thu là thời gian trong năm khi không khí chuyển sang khô hanh và cây bắt đầu chuyển màu lá. Đây là cảnh tương phản của lá cây với bầu trời dông bão ở Addison, bang Alabama.


Những người đạp xe hưởng thụ cảnh tượng tuyệt đẹp dọc theo con đường trong công viên Blue Ridge Parkway, gần Linville, North Carolina.


Jack Svoboda, 66 tuổi, đi trong tán lá vàng ở Trung tâm tự nhiên tại khu bảo tồn Rocky River, thành phố Cleveland, bang Ohio.


Những người đi bộ trong Frohring Meadows, một phần của công viên Geauga, ở bang Ohio, Mỹ.


Cảnh lá vàng ở Waynesboro, nước Mỹ.


Người phụ nữ dắt chó chạy bộ ở một công viên tại Philadelphia.


Vịt bơi trong cảnh lá vàng ở Hồ công viên trung tâm tại New York.


Hoa, lá vàng trước cảnh núi Washington, bang New Hampshire


Lá cây bắt đầu chuyển màu trong nắng sớm trên những mái nhà phản chiếu bóng xuống hồ Big, gần công viên quốc gia Woodford, Mỹ.


T. An (theo ABC)

mardi 23 septembre 2008

CÂY ĂN THỊT

Cây săn mồi 'xơi' cả thực vật khi đói

Do thức ăn khan hiếm, một loài cây ăn thịt nuốt chửng cả tảo để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của chúng.

Bladderwort, loài cây ăn thịt sống dưới nước hoặc những vùng đất ngập nước, có các bẫy giống như bong bóng nhỏ trên lá. Áp suất bên trong bẫy thấp hơn so với áp suất không khí. Mỗi chiếc bẫy có nhiều sợi lông cực nhạy. Khi một con mồi tới gần và chạm vào một sợi lông, bẫy lập tức mở ra. Một dòng nước đưa con vật vào bên trong thân cây, nơi nó bị tiêu hóa.

Các nhà sinh vật học từng nhìn thấy tảo nằm lẫn với những con côn trùng, giun tròn và nhiều động vật nhỏ trong bẫy của bladderwort, một loài thuộc họ Utricularia. Vậy tảo là vật cộng sinh của bladderwort hay chúng bị hút vào bẫy một cách vô tình? Có phải bladderwort dùng tảo làm thức ăn?

Bladderwort có những chiếc bẫy giống như bong bóng trên lá. Ảnh: crenvironmental.com.

Để làm rõ những nghi vấn, các nhà khoa học của Đại học Vienna (Áo) phân tích 1.450 bẫy từ bốn loài thuộc họ Utricularia. Họ nhận thấy khoảng 80% số bẫy có tảo. Ở những đầm lầy có hàm lượng khoáng càng cao, lượng động vật càng nhiều, thì số lượng tảo xuất hiện càng ít, và ngược lại. Ở những nơi không có nhiều động vật, bladderwort buộc phải ăn tảo thay thế. Bằng chứng là một lượng nhỏ tảo trong bẫy đã ở trong tình trạng bị tiêu hóa dở.

Theo tiến sĩ Marianne Peroutka, trưởng nhóm nghiên cứu, một số cây ăn thịt đã "xơi" cả thực vật, vì thế mà chúng ta nên bắt đầu gọi chúng là cây ăn tạp.

Việt Linh (theo Physorg)

vendredi 19 septembre 2008

KIẾN

Phát hiện "kiến từ sao Hoả"

Một nghiên cứu mới cho thấy, loại côn trùng ăn mồi sống, không có mắt, có thể là con cháu của loài kiến tiến hóa đầu tiên trên trái đất.

Christian Rabeling, nghiên cứu sinh ngành sinh học thuộc trường ĐH Taxas tại Austin, phát hiện loài kiến này tại một cái cây chết trong rừng rậm Amazone tại Brazil.

Rabeling và các đồng nghiệp của anh đặt tên cho loài kiến là "Martialis heureka" (Kiến sao Hỏa) do họ chưa nhìn thấy loài kiến này bao giờ.

Loài kiến này rất dễ thích nghi với đời sống dưới đất. Chúng có thân dài, màu xanh xám và không có mắt. Chúng còn có cái kẹp dài, mảnh dẻ như chiếc hàm. Các nhà nghiên cứu cho rằng loài kiến này sử dụng chiếc kẹp này để giữ con mồi.

89.jpg
Loài "kiến sao Hoả" không mắt, có họ hàng với loài kiến đầu tiên xuất hiện trên trái đất khoảng 120 triệu năm trước

Martialis không chỉ là loại sinh vật mới, mà nó còn là loại giống mới và phân họ của loài kiến. DNA lấy từ chân của loài kiến Martialis cho thấy tổ tiên của loài kiến này sống ở trên cây.

Rabeling cho biết khám phá mới của họ sẽ giúp các nhà sinh học có thể hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học và sự tiến hóa của loại kiến.

Loài kiến tiến hóa từ loài ong bắp cày từ hơn 120 triệu năm trước. Các nhà khoa học cho rằng loài kiến đã phát triển nhanh thành nhiều loài giống khác nhau, có thể tồn tại trên đất, lá cây hoặc trên cây trong các môi trường sống đa dạng.

Rabeling cho biết: “Khám phá này có thể đưa đến suy đoán loài thú ăn mồi sống, bị mù trên mặt đất xuất hiện cùng với thời kỳ đầu tiến hóa của loài kiến".

Điều này không có nghĩa tổ tiên của loài kiến đều bị mù và sống dưới lòng đất. Sinh vật mới này đã tiến hóa sớm và đã tồn tại lâu trong đất của vùng nhiệt đới.

Theo Thùy Diễm

ONG

Ong 'tặng' loài người hàng trăm tỷ USD

Nhờ hoạt động thụ phấn cho thực vật, ong và nhiều loài côn trùng giúp con người tạo ra rau, quả, dầu và nhiều thứ khác. Nỗ lực của chúng đáng giá 220 tỷ USD mỗi năm.

Theo Viện nghiên cứu nông nghiệp quốc gia Pháp (INRA), hoạt động thụ phấn của côn trùng đóng góp tới 9,5% giá trị tổng sản lượng nông nghiệp toàn cầu.

Ảnh:
Ảnh: curiousanimals.net.

Kết quả nghiên cứu của INRA được công bố trong bối cảnh giới khoa học Mỹ và châu Âu bày tỏ lo ngại về sự giảm sút số lượng của ong. Theo tính toán của họ, nếu ong biến mất hoàn toàn, sản lượng nông nghiệp và lâm nghiệp sẽ giảm sút, đẩy giá lương thực lên cao hơn. Khi đó, người tiêu dùng trên toàn thế giới sẽ phải chi thêm từ 273 tới 446 tỷ USD mỗi năm, chưa kể tới những tác động trực tiếp đối với môi trường.

Việt Linh (theo AFP)

BƯỚM HỔ

Bướm hổ răn đe kẻ ăn thịt như thế nào?

Nếu bạn ăn phải xúc xích thiu tại một cửa hàng bán đồ ăn nhanh, chắc chắn bạn sẽ nhớ lại trải nghiệm ấy mỗi khi nhìn thấy nhãn hiệu của loại xúc xích đó. Bướm hổ cũng áp dụng quy luật tâm lý tương tự để xua đuổi kẻ săn mồi.

Đối với một số loài chim và dơi, bướm hổ đồng trinh (Grammia virgo) là thức ăn độc hại. Trong quá trình tiến hóa, tạo hóa đã ban tặng loài bướm này những gam màu sáng trên cánh và tiếng lách tách để phát tín hiệu với kẻ thù rằng hãy tránh xa.

Một nghiên cứu của Đại học Cornell chứng minh rằng, những tín hiệu tác động tới ít nhất hai giác quan (gọi là tín hiệu đa giác quan) đã tiến hóa một cách độc lập như một phản ứng đối với những kẻ săn mồi. Cụ thể, những gam màu sáng trên cơ thể là tín hiệu cảnh báo tới một số loài chim vào ban ngày, còn những tiếng lách tách là để "dằn mặt" lũ dơi (vốn có thị giác kém) vào ban đêm.

"Chúng tôi quan tâm tới quá trình tiến hóa của những tín hiệu này. Đa số nhà nghiên cứu tập trung vào một tín hiệu cảnh báo và một cơ quan cảm giác, nhưng chúng tôi tìm hiểu hai tín hiệu và hai cơ quan cảm giác", John Ratcliffe, chuyên gia về sinh học tiến hóa, phát biểu.

Một loài bướm hổ đồng trinh. Ảnh: bugguide.net.

Các nhà sinh học đặt ra hai giả thuyết chính về cách thức tiến hóa của những tín hiệu đa giác quan. Giả thuyết thứ nhất cho rằng hai tín hiệu chống lại một loại kẻ thù. Trong khi đó, theo giả thuyết thứ hai, chúng được sinh ra để đối phó với nhiều kẻ săn mồi và mỗi tín hiệu có ý nghĩa cảnh báo riêng.

John Ratcliffe và cộng sự phân loại 26 loài bướm hổ đồng trinh ở một địa điểm thuộc Ontario, Canada - nơi sinh sống của cả chim và dơi. Các loài bướm được phân loại theo 4 tiêu chí: ngày chúng xuất hiện, hoạt động chủ yếu vào đêm hay ngày, màu sắc và tiếng động siêu âm.

Thời gian hoạt động chủ yếu của bướm đóng vai trò quan trọng nhất, bởi dơi bay đi kiếm mồi với tần số cao nhất từ đầu tháng 7 tới giữa tháng 8. Trong khi đó, chim kiếm ăn quanh năm.

Các chuyên gia nhận thấy những loài bướm hổ có màu trắng và màu sáng trên thân, cánh có xu hướng hoạt động vào ban ngày. Trong mùa xuân, khi mà đa số dơi vẫn còn ngủ đông, bướm không tạo ra những tiếng lách tách. Nhưng vào mùa hè, khi dơi nhan nhản khắp nơi, tiếng lách tách xuất hiện mỗi khi bướm bay. Những loài bướm hoạt động vào ban đêm cũng hòa lẫn vào môi trường xung quanh nhờ những gam màu sẫm.

Việt Linh (theo Physorg)